Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học

pdf 11 trang Tú Anh 17/09/2026 210
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_su_dung_khi_day_tu_vung_nham_nang_cao_chat.pdf

Nội dung tài liệu: Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học

  1. BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Tiếng Anh ở Tiểu học 3. Tác giả: Họ và tên: Hoàng Thị Trang Ngày/tháng/năm sinh: 23/11/1989 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên- Trường TH & THCS Chiến Thắng Điện thoại: DĐ: 0374118423 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường TH & THCS Chiến Thắng - An Lão - Hải Phòng. Địa chỉ: Thôn Mông Thượng - Xã Chiến Thắng - An Lão - Hải Phòng Điện thoại: II. MÔ TẢ BIỆN PHÁP ĐÃ BIẾT: Hiện nay Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế, nó được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Các em học không đơn thuần là để biết mà học để vận dụng trong công việc và trong giao tiếp. Trong bất kì một ngôn ngữ nào thì vai trò của từ vựng cũng rất quan trọng vì ngôn ngữ là một tập hợp của từ vựng. Chúng ta không thể hiểu ngôn ngữ mà không biết từ vựng. Muốn nắm vững cả bốn kĩ năng “Nghe, Nói, Đọc, Viết” đòi hỏi chúng ta phải có vốn từ phong phú, chính xác và nhất định. Chúng ta không thể hiểu từ vựng một cách độc lập riêng lẻ mà phải hiểu mối quan hệ của chúng trong từng ngữ cảnh khác nhau. Vì từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nó được thể hiện dưới hai hình thức: lời nói và chữ viết. Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó thì phải nắm vững hình thức biểu đạt của từ bằng lời nói và chữ viết. Song trong từ vựng còn có mối liên quan đến ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp . Như vậy việc học từ vựng và rèn kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng. Bộ môn Tiếng Anh tuy đưa vào phổ biến muộn hơn so với những môn học khác nhưng nó là chìa khóa mở ra kho tàng tri thức của nhân loại. Tuy nhiên việc học Tiếng Anh đối với HS Tiểu học hoàn toàn không đơn giản. Đa số các em thấy việc học từ vựng rất khó học và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác Tiếng Việt. Từ đó việc học từ vựng của các em trở nên khó khăn. Vậy làm thế nào để giúp
  2. các em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có thể sử dụng vốn từ học được trong giao tiếp thực tế. Đây là lí do tôi quyết định nghiên cứu “Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học”. 1. Ưu điểm - Môn Tiếng Anh là môn mới được áp dụng đối với học sinh tiểu học trong những năm gần đây, vì vậy đa số học sinh đều yêu thích bộ môn học mới mẻ này và chuẩn bị tốt sách vở và đồ dùng học tập khi đến lớp. - Ban giám hiệu nhà trường cùng các anh, chị đồng nghiệp luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy: sách giáo khoa, sách tham khảo, sách giáo viên, Tivi, loa,.. - Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp giáo viên có được nhiều nguồn tư liệu, trang web học Tiếng Anh trên Internet, hình ảnh phục vụ cho công tác giảng dạy. - Phần lớn phụ huynh đã quan tâm và tạo điều kiện cho con em mình học tập. 2. Hạn chế - Qua nhiều năm giảng dạy chương trình Tiếng Anh Tiểu học, tôi thấy phương pháp dạy từ vựng của giáo viên còn nhiều hạn chế, thông thường giáo viên dùng phương pháp dịch vì nó giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian. Từ đó chưa gây được hứng thú cho học sinh khi học từ vựng. - Trong một tiết học thời gian từ 35 - 40 phút, nhưng có rất nhiều nội dung để thực hiện, số lượng từ mới lại xuất hiện trong mỗi bài khá nhiều nên việc học sinh được dành thời gian luyện tập từ vựng còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó học sinh rất khó nhớ từ vựng ngay tại lớp. - Bên cạnh đó, đa số học sinh chưa có thói quen học từ vựng, khi giáo viên kiểm tra việc học từ ở nhà thì có rất ít học sinh thuộc từ, đôi khi các em viết đúng nhưng không đọc được, không nhớ được nghĩa của từ, đọc được nhưng không viết được, Từ những hạn chế của giải pháp đã thực hiện, tôi xin đưa ra các giải pháp: - Biện pháp 1: Lựa chọn từ để dạy - Biện pháp 2: Sử dụng các kĩ thuật giới thiệu từ vựng - Biện pháp 3: Cách kiểm tra từ vựng - Biện pháp 4: Hướng dẫn HS học từ vựng ở nhà III. NỘI DUNG BIỆN PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN III.1. Nội dung biện pháp đề nghị công nhận sáng kiến. Để đạt đươc hiệu quả cao trong việc giúp học sinh học tốt từ vựng Tiếng Anh ở bậc Tiểu học, tôi tiến hành thực hiện các giải pháp sau: Biện pháp 1: Lựa chọn từ để dạy
  3. - Ở Tiểu học hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói đến ngữ pháp và từ vựng, chúng luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, luôn dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên việc dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể cần xem xét. Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong không phải từ nào cũng cần đưa vào dạy. Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề: + Từ chủ động (active vocabulary) + Từ bị động (passive vocabulary) - Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết). Đối với loại từ này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn. - Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như từ bị động; Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của từ là: + Form (dạng từ) + Meaning (ý nghĩa) + Use (cách sử dụng) - Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian để thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên trong một tiết học chỉ dạy tối đa từ 4- 5 từ; - Trong khi lựa chọn từ để dạy, giáo viên nên xem xét hai điều kiện sau: + Từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản không? + Từ đó có khó so với trình độ học sinh không? - Các bước tiến hành giới thiệu từ vựng: Bước 1: “Nghe”: Giáo viên cho HS nghe từ bằng cách mở băng đĩa hoặc đọc mẫu. Bước 2: “Nói”: Sau khi HS đã nghe đượctừ â- ê lần thì giáo viên yêu cầu HS nhắc lại theo cả lớp - nhóm- cá nhân. Bước 3: “Đọc”, giáo viên viết từ đó lên bảng và cho HS nhìn vào đó để đọc. Học sinh đọc theo cả lớp, nhóm, cá nhân và giáo viên sửa lỗi cho HS. Bước 4: “ Viết”: Sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xaxc rồi bạn mới yêu cầu HS viết từ đó vào vở. Bước 5: Xác định xem HS đã hiểu nghĩa của từ chưa Bước 6: Nghe và đánh trọng âm từ, phát âm lại từ đó Bước 7: Cho mẫu câu và yêu cầu HS xác định từ loại của từ Biện pháp 2: Sử dụng các kĩ thuật giới thiệu từ vựng
  4. - Việc vận dụng đúng đắn và khoa học các kĩ thuật dạy từ trong giờ học Tiếng Anh ở Tiểu học nhằm: + Tạo sự hứng thú say mê học tập của học sinh + Khơi dậy niềm khao khát tham gia vào hoạt động tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm của học sinh + Giúp HS chủ động thực hiện các hoạt động học tập. + Giúp HS tập trung chú ý hơn + Tạo điều kiện cho HS vừa học vừa chơi, giảm áp lực khi học tập + Giúp các em tái hiện, hệ thống hóa kiến thức một cách dễ dàng nhất - Trong quá trình học ngoại ngữ, từ vựng có thể xem là phần quan trọng nhất vì nó là phương tiện dùng để diễn đạt ý tưởng đồng thời đó cũng là cầu nối giữa các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết. Tuy nhiên, việc dạy từ vựng lại không đơn giản chút nào, nhất là dạy cho trẻ đang ở lúc bắt đầu học ngoại ngữ. Dạy tiếng Anh nói chung và dạy từ vựng nói riêng cho trẻ đòi hỏi ở người giáo viên không chỉ có khả năng ngôn ngữ mà còn là cách làm thế nào để khiến HS tham gia vào bài học. Để làm được điều đó, giáo viên buộc phải tạo ra sự đa dạng trong các hoạt động trong giờ học. Đó là lí do tại sao giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp và kỹ thuật dạy từ một cách linh hoạt để duy trì khả năng tập trung ở học sinh tiểu học. Làm thế nào có thể tạo ra cho trẻ một không khí học tập vui vẻ và thư giãn mà hiệu quả là điều mà tôi băn khoăn, trăn trở. Thông thường để giới thiệu một từ mới, tôi thường tiến hành qua các bước: + Gợi mở từ dạy bằng tranh vẽ, vật thật, ví dụ, tình huống...; + Giới thiệu từ dạy bằng Tiếng Anh; + Cho học sinh nghe 2 lần. + Học sinh nhắc lại từ mới (đồng thanh 2-3 lần). + Học sinh nhắc lại cá nhân (2 - 3 học sinh); + Giáo viên trình bày từ dạy lên bảng; + Kiểm tra lại nghĩa của từ vừa học; + Khi dạy xong tất cả từ mới, học sinh viết từ vào vở. Sau đây là một số kinh nghiệm về phương pháp dạy từ vựng mà tôi cho là hiểu quả và tôi thường xuyên áp dụng: - Một số kĩ thuật giới thiệu từ vựng làm cho các em chú ý khi học từ như: a. Visual (nhìn): Cho học sinh nhìn tranh ảnh hoặc vẽ phác họa cho HS nhìn. Ví dụ: Unit 14. Tiếng anh 3. a chair a table
  5. Phương pháp này được sử dụng phổ biến và hiệu quả vì học sinh Tiểu học thích tranh ảnh, nó thực tế khi quan sát dễ hiểu, dễ nhớ từ hơn là nhìn chữ đọc suốt trong tiết học. b. Mine (điệu bộ): Diễn tả bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ cho học sinh đoán nghĩa. Cách này chỉ sử dụng cho những từ dễ hiểu và đòi hỏi người dạy phải tự tin diễn tả đúng điệu bộ học sinh mới có thể đoán đúng nghĩa. Ví dụ: Unit 11. Tiếng anh 5. Khi dạy từ “headache’’ giáo viên chỉ cần dùng hai tay ôm thái dương, mặt nhăn nhó và hỏi: What’s the matter with me? c. Realia (vật thật): Cho học sinh xem vật thật để trả lời sau đó giáo viên đưa từ Tiếng Anh (Cách dạy tương tự như cách nhìn tranh đặt câu hỏi) VD: Unit 15. Tiếng anh 3, Khi dạy các từ: fish, water, egg, giáo viên chỉ cần đưa đồ vật thật và hỏi: What’s this? d. Situation (tình huống): Giáo viên thiết lập tình huống đơn giản, dễ hiểu bằng Tiếng Anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống và có thể bắt chước, sử dụng từ vào ngữ cảnh giao tiếp đồng thời rèn kĩ năng nghe. VD: Khi dạy từ “ toothache” giáo viên có thể thiết lập tình huống như sau: “I eat a lot of sweet and cakes every day. I have a ..” Như vậy thông qua ví dụ trên, học sinh hiểu nghĩa của từ dễ dàng hơn. e. Explanation (giải thích): Giáo viên sử dụng những từ ngữ quen thuộc, dễ hiểu đối với học sinh để giải thích nghĩa từ mới. Thủ thuật này tạo học sinh sự tò mò có nhu cầu tham gia vào quá trình học tập. Đồng thời rèn luyện kĩ năng nghe; VD: Khi dạy từ “ school” giáo viên có thể giải thích: This is a place where there are many teachers, classrooms and students. f. Example (Ví dụ): Đưa ra ví dụ giúp học sinh hiểu rõ từ. Các ví dụ cần đơn giản, dễ hiểu vì mục đích chính là để người học hiểu từ. VD: Khi dạy từ “clothes” giáo viên đọc: shirts, shoes, trousers, jeans, These are all “ clothes”. Biện pháp 3: Cách kiểm tra từ vựng Nếu chỉ giới thiệu từ mới thôi không đủ mà chúng ta còn phải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tích cực và có hiệu quả hơn. Một số thủ thuật tôi sử dụng để kiểm tra từ mới:
  6. a. Kiểm tra đơn giản: là việc kiểm tra từ vựng riêng lẻ, kiểm tra ngay sau khi hoàn thành việc giới thiệu từ vựng. Các hoạt động kiểm tra ở từng bài giảng thường được giáo viên nêu ra dưới dạng các trò chơi khiến học sinh thích thú, say mê với bài học, kích thích sự ganh đua trong học tập. + Sử dụng trang web để kiểm tra sự tiếp thu kiến thức từ vựng của học sinh. Tôi thường sử dụng Vòng quay “Wheel”. Cách chơi: 1 HS làm quản trò điều khiển trò chơi, các bạn còn lại hăng hái xung phong trả lời từ vựng theo hình được dừng lại ở mũi tên. HS thường gọi đây là “Vòng quay may mắn”. Tất cả HS đều hào hứng được trả lời. + Jumble words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu cầu học sinh viết lại từ cho đúng. Ví dụ: Jpana ---> Japan Aemcari---> America + Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên bảng. Yêu cầu học sinh vỗ vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ đó (từ trên bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại). + What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho học sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũ của nó. + Network: Học sinh viết từ theo chủ điểm. VD: Giáo viên cho chủ đề về “môn học” và yêu cầu học sinh viết các từ về chủ đề “ môn học’’ + Matching: Một cột giáo viên viết từ, còn cột thứ hai viết khái niệm hoặc định nghĩa không theo thứ tự của cột thứ nhất, sau yêu cầu học sinh nối từ với khái niệm hoặc định nghĩa của chúng. Ví dụ: 1. go a. badminton 2. play b. breakfast 3. have c. to school b. Kiểm tra hoàn thiện - Bên cạnh việc kiểm tra đơn giản, còn có kiểm tra hoàn thiện. Kiểm tra hoàn thiện được thực hiện sau khi phần từ vựng được thực hành, ôn luyện và củng cố trong các giờ thực hành nói - viết, giờ luyện kĩ năng nghe, đọc, viết. Loại kiểm tra này thường diễn ra dưới dạng kiểm tra nói hoặc viết. Giáo viên có thể thực hiện ngay trong phần “warm up” của bài dạy hoặc dưới dạng kiểm tra bài cũ, hoặc kiểm tra học kỳ; + Gap fill: Học sinh điền từ vào chỗ trống để hoàn thiện một câu hoặc một đoạn văn.
  7. VD: What’s your favourite subject? I like Math. + Choose the best anwser: Học sinh chọn đáp án đúng nhất trong các đáp án gợi ý; VD: Mai ____________ to the movies last summer. A. go B. goes C. went D. going + Put words in the right order: HS sắp xếp các từ xáo trộn thành câu hoàn chỉnh. VD: Unit 11.English 5: is/ matter/ What/ the/?/ you /with/-> What is the matter with you? + Chain game: Học sinh làm việc trong nhóm, người sau bổ xung ý thêm vào câu của người trước. VD: HS 1: I like dogs. HS 2: I like dogs and Nam likes cats. - Mục đích của việc kiểm tra hoàn thiện này nhằm kiểm tra học sinh có hiểu và sử dụng đúng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể không, và bên cạnh đó còn nhằm giúp học sinh xây dựng được vốn từ vựng đầy đủ và phong phú. Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà - Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong học tập thì tôi luôn tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học. Trong quá trình dạy và học, GV chỉ là người truyền tải kiến thức đến HS, HS muốn lĩnh hội tốt kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình. - Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia đình, các em phải lên kế hoạch cho hoạt động học tập của mình. Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày càng hoàn thiện hơn. Vì vậy ngay từ đầu năm học, tôi đã hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà. - Tôi đã sử dụng trang web để hướng dẫn học sinh tự học từ mới tại nhà. Học sinh có thể tự tìm hiểu trước hoặc ôn tập lại từ vựng đã học trên lớp. - Trang web là 1 trang web có bộ từ vựng Tiếng Anh từ lớp 1 đến lớp 12 theo chương trình Sách giáo khoa hiện hành. Tôi không mất nhiều thời gian soạn bài tập, tôi có thể sử dụng bộ từ mới sẵn có trong chương trình SGK từ lớp 1 đến lớp 5 để sử dụng cho HS trong trường TH&THCS Chiến Thắng. Với mỗi đơn vị bài học có từ 10 hoặc trên 10 hoạt động khác nhau.
  8. VD:- HS tìm ghép tranh tương ứng với từ, hoặc nghe và chọn tranh tương ứng với từ, ở đây có sẵn âm thanh chuẩn giúp học sinh được nghe âm chuẩn ngay từ ban đầu. - Hoạt động điền chữ cái còn thiếu giúp HS đánh vẫn chữ cái còn thiếu, giúp HS ghi nhớ từ vựng tốt hơn.(hình ảnh minh họa bên dưới) - Hoạt động Word search, HS tìm từ vựng theo hàng dọc, ngang, chéo để tìm ra từ và đánh vần từ đúng, từ đó giúp ghi nhớ từ vựng tốt hơn.(hình ảnh minh họa bên dưới) - Với đường link trên trang web bestflashcard.com giáo viên gửi cho HS để luyện thêm ở nhà. VD: 13/connection
  9. - Hướng dẫn học sinh các cách ghi nhớ: + Phân loại từ theo chủ điểm: Ví dụ: Học chủ đề về “food” học sinh học tất cả các từ về chủ đề food ( thức ăn) như: meat, chicken, beef, pork, fish . + Những cặp từ đồng nghĩa, trái nghĩa: Ví dụ: cold > < weak; beautiful = nice Việc phân loại theo chủ điểm hoặc theo nhóm từ giúp học sinh nhớ từ một cách dễ dàng. Hơn nữa, mỗi khi nhắc đến một từ trong số các từ đó thì các em sẽ nhớ lại tất cả các từ trong nhóm. + Đặt câu với từ: Việc đặt câu với từ giúp các em luyện ngữ pháp mà còn giúp các em nhớ nghĩa của từ và cách sử dụng một cách sâu sắc. Ví dụ: Đặt câu với từ “ classroom” - This is my classroom. III.2. Tính mới, tính sáng tạo. 2.1. Tính mới. - HS tiếp thu nhanh, nhớ lâu và có thể vận dụng một cách tích cực từ vựng Tiếng Anh trong học tập lẫn trong thực tế cuộc sống, - Rèn cho HS có ý thức tự học từ vựng bằng những phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả. - Khai thác trang mạng sẵn có, hiệu quả và miễn phí áp dụng vào học tập cho HS. 2.2. Tính sáng tạo. - Nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp dạy từ vựng Tiếng Anh ở Tiểu học. - Đề ra một số biện pháp dạy từ vựng Tiếng Anh bậc Tiểu học đạt kết quả, khơi dậy niềm khao khát tham gia hoạt động tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu của học sinh. - Nhằm giúp cho học sinh có hiểu biết ban đầu về môn Tiếng Anh và có thể nói các từ đơn giản, hiểu được nghĩa hai chiều và nói được các câu giao tiếp đơn giản. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến:
  10. Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng vào giảng dạy tại đơn vị và bước đầu thu được kết quả khả quan ở học sinh lớp 3, 4, 5 và có thể áp dụng cho tất cả học sinh ở trường Tiểu học trong huyện, nếu giáo viên Tiếng Anh chịu khó nghiên cứu và vận dụng chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: Hiệu quả kinh tế: Sau một thời gian áp dụng “Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học” vào quá trình giảng dạy. Kết quả cho thấy: - Học sinh tích cực học tập, có hiệu quả hơn. - Hoạt động của các em tự giác, tự tin và chủ động hơn, giờ học thoải mái hơn. - Rèn cho học sinh tính chuyên cần, siêng năng khi học Tiếng Anh. Việc học của các em đã tăng đáng kể. Phần lớn các em đều thích học Tiếng Anh với kết quả đạt được như sau: * Khảo sát thực tế: - Kết quả bài kiểm tra cuối học kì 2 năm học 2022 – 2023 của khối lớp 5. Lớp Số lượng Kết qủa trước áp dụng sáng kiến HS Điểm dưới 5 Điểm từ 5 - 10 5A 32 5 (15,6 %) 27 (84,4 %) 5B 36 6 (16,7 %) 30 (83,3%) 5C 34 6 (17,6 %) 28 (82,4 %) 5D 33 6 ( 18,2 %) 27(81,8 %) - Kết quả bài kiểm tra cuối học kì 1 năm học 2023 – 2024: Lớp Số lượng Kết qủa sau Áp dụng sáng kiến HS Điểm dưới 5 Điểm từ 5 - 10 5A 32 1(3,1%) 31(96,9 %) 5B 36 2(5,5 %) 34 (95,5%) 5C 34 1( 2,9%) 33(97,1%) 5D 33 1(3,1%) 32(96,9%) - Kết quả đạt được ở trên cho thấy sự đúng đắn và tính khả thi của giải pháp. Nó không những tháo gỡ bế tắc lâu nay của GV đứng lớp, mà còn góp phần rèn luyện những chủ nhân tương lai của đất nước thành những con người năng động, tự tin và sáng tạo trong việc giải quyết mọi vấn đề, trên mọi lĩnh vực đặc biệt là giao tiếp bằng Tiếng Anh. - GV và HS không mất nhiều kinh phí để đầu tư về tài liệu giảng dạy và học tập. b. Hiệu quả về mặt xã hội: - Chất lượng giáo dục của lớp, của khối cũng như của nhà trường đã được nâng lên một cách đáng kể.
  11. - Tạo được niềm tin của PHHS, của lãnh đạo địa phương đối với tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường. c. Giá trị làm lợi khác: - Thời gian áp dụng sáng kiến không nhiều nhưng vẫn giúp được HS chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức. - Đa số học sinh có hứng thú tham gia các hoạt động. - Xây dựng được cho HS một nền tảng kiến thức vững chắc nhằm trang bị cho các em hành trang mới khi học tập ở các lớp tiếp theo. Trên đây là vài suy nghĩ nhỏ của tôi về “Một số biện pháp sử dụng khi dạy từ vựng nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học” chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ và đóng góp ý kiến của hội đồng thẩm định các cấp, của bạn bè đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! CƠ QUAN ĐƠN VỊ Chiến Thắng, ngày 16 tháng 2 năm 2024 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Tác giả sáng kiến (Xác nhận) (Ký tên) Hoàng Thị Trang