Giải pháp sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo hứng thú và tích cực cho học sinh trong phân môn luyện từ và câu Lớp 4
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo hứng thú và tích cực cho học sinh trong phân môn luyện từ và câu Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
giai_phap_su_dung_tro_choi_hoc_tap_nham_tao_hung_thu_va_tich.doc
Nội dung tài liệu: Giải pháp sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo hứng thú và tích cực cho học sinh trong phân môn luyện từ và câu Lớp 4
- BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Thông tin chung về sáng kiến 1. Tên sáng kiến: “Giải pháp sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo hứng thú và tính tích cực cho học sinh trong phân môn luyện từ và câu Lớp 4”. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học Tiếng Việt Lớp 4. 3. Tác giả: Họ và tên: Hoàng Văn Ngân Ngày/tháng/năm sinh: 29/9/1980 Chức vụ: Giáo viên Điện thoại: 0972 366 677 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường TH và THCS Chiến Thắng Địa chỉ: Xã Chiến Thắng, huyện An Lão, Hải Phòng II. Mô tả giải pháp đã biết: II.1. Thực trạng giải pháp đã biết: Phân môn Luyện từ và câu có một vị trí vô cùng quan trọng đối với các em học sinh Tiểu học. Nó là một phần không thể thiếu, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản, cơ bản về Tiếng Việt và góp phần rèn kĩ năng dùng từ đặt câu, mở rộng hóa hệ thống vốn từ, trang bị cho học sinh một số hiểu biết về từ và câu, rèn các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu. Thông qua phân môn này, giáo viên bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu và cách sử dụng Tiếng Việt một cách văn hóa trong giao tiếp. Để dạy tốt phân môn Luyện từ và câu thì người giáo viên phải sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy học. Hiện nay cũng đã có rất nhiều nhà giáo dục quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo một hướng tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo của người học. Một trong những biện pháp dạy học nhằm đạt mục đích trên đây là gây hứng thú học tập, tạo niềm tin học tập, niềm vui bằng cách lôi cuốn các em vào trong những trò chơi học tập hấp dẫn, phù hợp với trình độ nhận thức của các em. II.2. Ưu điểm: Trò chơi học tập là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên chủ yếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi. Qua trò chơi học tập người chơi còn có thể được rèn luyện về thể lực, rèn luyện về các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè đồng đội trong nhóm, tổ,...
- 2 Trò chơi học tập là một hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí. Thông qua trò chơi học tập học sinh có điều kiện "Học mà chơi, chơi và học". Khi tham gia vào các trò chơi học tập học sinh sẽ được tưởng tượng và suy ngẫm, thử nghiệm các tình huống, cách lập luận để đạt kết quả cao. Trò chơi học tập còn tạo được không khí vui tươi hồn nhiên, nhẹ nhàng sinh động trong giờ học, giúp cho khía cạnh khô khan của vấn đề học tập được giảm nhẹ và ghi nhớ của trẻ trở nên vững chắc hơn. Giúp học sinh tiếp thu tri thức một cách tích cực và tự giác. Việc kết hợp sử dụng hình thức trò chơi trong học tập sẽ đưa lại hiệu quả cao trong dạy học. Trò chơi học tập được sử dụng sẽ có tác dụng tích cực nhằm thay đổi hình thức học tập và thông qua trò chơi học tập không khí lớp học sẽ trở nên thoải mái, dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. II.3. Hạn chế: Trong quá trình vận dụng "Phương pháp trò chơi học tập" GV còn mắc phải một số sai lầm làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của bài học đó là: Nội dung trò chơi học tập không phù hợp với nội dung bài học, đơn vị kiến thức cần đạt hay cần củng cố. Giáo viên chưa xác định được đầy đủ mục tiêu cần đạt của bài học cũng như mục tiêu cần đạt của mỗi đơn vị kiến thức; chưa có sự nghiên cứu bài một cách nghiêm túc để có sự lựa chọn trò chơi phù hợp và hiệu quả nhất cho đơn vị kiến thức cần đạt của bài học. Nội dung trò chơi học tập không phù hợp với điều kiện thực tế, khả năng của học sinh. Một số giáo viên kiến thức cũng như kĩ năng sư phạm còn yếu cũng làm ảnh hưởng đến lựa chọn trò chơi học tập và sử dụng phương pháp trò chơi học tập cho mỗi tiết dạy của mình. Đa số giáo viên có tâm lí nóng vội cầu toàn, muốn mọi việc diễn ra trơn tru ngay, thiếu tin tưởng vào học sinh. Thực tế cho thấy phương pháp trò chơi học tập thường được sử dụng nhiều trong các tiết thao giảng nên để tổ chức tốt giáo viên cho học sinh tập dượt quá kĩ nên đến giờ học học sinh tham gia một cách thụ động không tự nhiên làm cho không khí lớp học nặng nề, nhiều lúc đi ngược với tác dụng của trò chơi học tập. Việc nóng vội cầu toàn, không muốn có những tình huống xảy ra cũng làm giảm đi mặt tích cực của trò chơi học tập. Khi thực hiện giáo viên chỉ chú ý chọn những em mạnh dạn, quen thuộc nhanh nhẹn làm hạn chế cơ hội cho các em khác tham gia học tập và thể hiện bản thân. Đánh giá việc thực hiện trò chơi của các em thiếu khách quan, công bằng. Nhiều giáo viên khi sử dụng phương pháp trò chơi học tập thường xem nhẹ việc đáng giá làm
- 3 mất đi hứng thú tham gia trò chơi học tập của các em. Việc động viên khuyến khích tinh thần học tập của các em cũng chưa được chú trọng nên khiến các em chán nản, lười tham gia ở các lần sau. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: III.1. Nội dung giải pháp đề xuất: “ Học mà chơi - chơi mà học” là một phương pháp giúp học sinh tích cực tham gia vào hoạt động thực hành rèn luyện kiến thức một cách tự giác và hứng thú. Thông qua trò chơi học tập, học sinh không những phát triển cả trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ mà còn được hình thành cả kĩ năng Tiếng Việt, hành vi đạo đức và giáo dục nhân cách. Trong quá trình vui chơi, học sinh tự mình khám phá, phát hiện kiến thức, rèn kĩ năng nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức. Khi lớp học vừa là môi trường học tập vừa là sân chơi bổ ích, lí thú sẽ tạo cho học sinh cảm giác gần gũi thân thiện. Đó là một trong những yếu tố thúc đẩy nhận thức của học sinh theo hướng tích cực. Đáp ứng được nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập sẽ đồng nghĩa với tiết học đó đã đạt yêu cầu đặt ra. Có thể nói thành công của một tiết dạy dựa trên nhiều phương thức tổ chức, hình thức hoạt động. Một trong những hình thức đạt hiệu quả đó là hình thức tổ chức trò chơi học tập. Chính vì những lí do trên tôi đã nghiên cứu và đề ra “Giải pháp sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo sự hứng thú và tính tích cực trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh Lớp 4 .” III.1.1. Giải pháp thứ nhất: Nắm vững nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học: Đối với nguyên tắc giao tiếp, giáo viên cần chú ý giao tiếp là chức năng xã hội của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người. Nguyên tắc giao tiếp cũng chính là sự vận dụng nguyên tắc thực hành của lí luận dạy học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên tắc thực hành. Trong dạy học Luyện từ và câu không chỉ được thực hiện trên phương diện nội dung mà còn ở phương pháp dạy học. Vì phương pháp dạy học, trước hết là các kĩ năng Tiếng Việt phải được thực hành và phát triển thông qua hệ thống bài tập mang tính tình huống phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên. Như vậy, nguyên tắc giao tiếp trong dạy Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động ngôn ngữ thường xuyên. Đó là một yêu cầu cần thiết để thực hiện bài tập miệng. Đối với nguyên tắc tích hợp, giáo viên cần chú ý không có vốn từ phong phú thì không hiểu nghĩa, đặc điểm ngữ pháp của từ thì không thể đặt câu đúng, đồng thời nếu không nắm vững quy tắc đặt câu thì có vốn từ phong phú, dù có nắm chắc nghĩa của từ thì cũng không thể trình bày ý nghĩa của mình một cách đúng đắn, mạnh lạc. Vì vậy luyện từ và câu không thể tách rời. Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy Luyện từ và câu
- 4 phải được hình thành mọi lúc, mọi nơi ngoài giờ học, trong môn học. Tất cả các môn học và phân môn Tiếng Việt đều có vai trò lớn trong phân môn Luyên từ và câu. Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới con người. Đối với nguyên tắc trực quan, giáo viên cần biết được ý nghĩa của những hình ảnh, những biểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh là một tổ hợp cần thiết cho việc dạy học nào. Quan điểm này là cơ sở của nguyên tắc trực quan. Việt dạy đồng thời động đến việc học của học sinh bằng vật thật và bằng lời nói. Quá trình học học sinh kết hợp cả nghe, nói, đọc, viết từ và câu. Các ngữ liệu giáo viên đưa ra là cơ sở để xem xét trong giờ học Luyện từ và câu phải thực sự tiêu biểu. Qua đó giáo viên nhìn nhận để chọn ra tài liệu trực quan phù hợp với yêu cầu, mục đích của tiết học, và từ đó xây dựng kế hoạch, sử dụng tài liệu trực quan. Đối với nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung và hình thức trong dạy học Luyện từ và câu. Giáo viên cần chú ý đến quá trình hình thành khái niệm cũng đồng thời là quá trình học sinh nắm vững thao tác như: tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa với từng bước lên lớp, từng nội dung, nhiệm vụ dạy học. III.1.2. Giải pháp thứ 2: Hiểu đúng về trò chơi và trò chơi học tập. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về trò chơi “Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi và giải trí”. Trong cuốn giải thích thuật ngữ tâm lý- giáo dục học, thì cho rằng “Trò chơi là hoạt động lý học hay là tinh thần hoàn toàn không có vụ lợi thường có cơ sở là quy ước hay tưởng tượng trong ý thức của người chơi, không ngoài mục đích từ thân và mục tiêu khác là tạo khoái cảm”. A.M-Go-ro-ki đã nhận định “Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và cách chúng nhận thấy phải thay đổi”. Đó là những định nghĩa những cách hiểu về trò chơi. Vậy trò chơi học tập được hiểu như thế nào, được ứng dụng như thế nào trong qúa trình dạy học? Trò chơi học học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các quy tắc gắn với kiến thức, kĩ năng có được trong học tập, gần với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi. Thông qua chơi học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã được học vào các tình huống của trò chơi và do đó học sinh được thực hành luyện tập củng cố và mở rộng những gì đã học, trang bị cho học sinh những kiến thức mới. Nói về trò chơi học tập ở Trường Tiểu học thì “Trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhất định và có những quy định mà những người tham gia phải tuân thủ. Trò chơi trong trường Tiểu học giúp học sinh thay đổi không khí, tránh mệt mỏi, căng thẳng, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học,
- 5 phát huy hứng thú, khả năng tư duy, tạo thói quen độc lập và sáng tạo của học sinh” Qua trò chơi học tập học sinh có khả năng bộc lộ khả năng của mình trong việc học tập môn Tiếng Việt đồng thời làm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong bộ môn này. Áp dụng phương pháp trò chơi học tập vào phân môn Luyện từ và câu là đưa học sinh vào hoạt động vận dụng. Học sinh phải thực hiện chủ động, sáng tạo để nhận diện được điều cần lĩnh hội, tiếp thu. Trò chơi học tập được thực hiện trong quá trình dạy học làm giảm bớt đi sự căng thẳng khô khan không còn sự tẻ nhạt mà nó đem đến một sự sôi nổi, ham mê, hấp dẫn, say sưa tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội tri thức của mỗi giờ học. Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơiCác em được tiếp cận hoàn cảnh chơi, nhiệm vụ chơi, hoạt động chơi. Dạy học Luyện từ và câu có ý nghĩa quan trọng trong trường Tiểu học. Việc vận dụng trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất nhằm đảm bảo phù hợp với dạy học theo hướng đổi mới góp phần nâng cao chất lượng của quá trình dạy và học. Để dạy học theo hướng đổi mới, hướng vận dụng trò chơi học tập thực sự hiệu quả, giáo viên cần nắm rõ được yêu cầu của nội dung, phương pháp tổ chức trò chơi để lồng ghép vào một bài học một cách thích hợp nhằm thu được kết quả như mong đợi. III.1.3. Giải pháp thứ 3: Nắm vững nội dung và chương trình dạy học phân môn Luyện từ và câu ở Lớp 4. Những nội dung dạy phân môn Luyện từ và câu bao gồm: Các loại dấu câu: ( Dấu gạch ngang, Dấu hai chấm; dấu ngoặc kép; dấu chấm cảm, dấu hỏi chấm). Từ loại: (Danh từ, động từ, tính từ). Cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam, nước ngoài; Câu kể Ai làm gì; Ai thế nào; Ai là gì? Trạng ngữ: ( chỉ thời gian, địa điểm, nơi chốn, mục đích, phương tiện); Câu, Các bộ phận chính trong câu. Về nội dung nghĩa của từ cung cấp cho học sinh một số kiến thức sơ giản về các từ loại và cách thức sử dụng các lớp từ này. Cụ thể là: Về nội dung từ loại cung cấp cho học sinh một số kiến thức sơ giản về hai từ loại có tính chất từ công cụ trong hoạt động giao tiếp của người Việt và luyện tập sử dụng hai loại từ này. Đối với nội dung câu thì cung cấp cho học sinh kiến thức sơ giản về câu kể: Câu kể Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? Về nội dung ngữ pháp văn bản. Phần này cung cấp các kiến thức sơ giản về cách xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu, cách đặt câu hỏi tìm chủ ngữ, vị ngữ. Cách xác định trạng ngữ trong câu. Phân môn luyện từ và câu Lớp 4 có phần hệ thống hóa tất cả các nội dung về từ và câu mà HS được học ở cấp Tiểu học. Chương trình Luyện từ và câu Lớp 4 gồm 35 tiết. Mỗi tuần 1 tiết: HK I là 18 tiết, HK II 17 tiết. ( Bao gồm cả các tiết ôn tập).
- 6 Về cấu trúc của bài học trong sách giáo khoa, mỗi bài trong phân môn Luyện từ và câu thường được trình bày từ 3 đến 4 bài tập (đa số là 4 bài) Như vậy phân môn Luyện từ và câu gồm 35 tiết với những nội dung như: Quan hệ từ, từ loại; Câu; học về dấu câu, cách sử dụng dấu câu ..Nội dung các tiết học phong phú, mỗi tiết đảm nhiệm một nội dung khác nhau, chứng tỏ việc tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh ở phân môn này là rất quan trọng.. Vì mỗi trò chơi nó mang một sắc thái riêng nhưng cũng chung một mục đích là kích thích sự say mê học tập của học sinh. III.1.4. Giải pháp thứ 4: Khái quát về phương pháp tổ chức Trò chơi học tập cho học sinh Lớp 4 trong các tiết Luyện từ và câu. Trò chơi học tập là một trò chơi đặc biệt chính vì vậy chúng có một số yêu cầu khác so với trò chơi thông thường nhằm đảm bảo đạt mục đích của việc tổ chức trò chơi. Trò chơi học tập phải mang tính giáo dục, thông qua trò chơi học sinh hiểu được nghĩa của nó. Tổ chức trò chơi nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung kiến thức bài học nghĩa là trò chơi phải gắn giữa tri thức và kĩ năng. Đồng thời trò chơi phải phù hợp với nội dung, nội dung phải mang tính thực tiễn và phù hợp với khả năng của học sinh. Hình thức chơi cũng phải đa dạng và phong phú có sự thay đổi tránh sự lặp đi lặp lại một trò chơi trong tiết học. Đặc biệt không nhất thiết phải tổ chức trò chơi trong một thời điểm ấn định trước, mà có thể diễn ra xuyên suốt trong quá trình học. Về cấu trúc của trò chơi phải xây dựng được tên trò chơi, mục đích ý nghĩa trò chơi, dụng cụ chơi, luật chơi, số người và tổng kết đánh giá trò chơi. Tên trò chơi: Là việc khởi đầu có tác dụng gây hứng thú với học sinh ngay khi mới nghe tên trò chơi. Mục đích: Đó là khi tiến hành chơi trò chơi thì GV phải nói lên mục đích trò chơi. Dụng cụ: Là những vật dụng để hỗ trợ cho trò chơi. Khi thực hiện phương pháp trò chơi học tập thường gồm 3 bước như sau: Bước 1: Chuẩn bị. Bước 2: Tổ chức trò chơi. Bước 3: Đánh giá tổng kết. III.1.5. Giải pháp thứ 5: Cách tổ chức các trò chơi học tập khi dạy học Luyện từ và câu Lớp 4. Các trò chơi: Ai tài đối đáp; Tiếp sức; Rung chuông vàng; Chung sức; Ghép đôi; Đố bạn; Truyền điện; Hỏi nhanh - đáp giỏi; Xếp từ theo nhóm; Trổ tài nhân hóa; Truy tìm dấu phẩy; Trắc nghiệm Với mỗi trò chơi lại mang một ý nghĩa riêng, với cách thức tổ chức, thực hiện khác nhau nhưng tất cả các trò chơi đều có chung mục đích đó là đem lại hứng thú học tập cho học sinh. Dựa vào nội dung của từng bài mà chúng ta
- 7 sẽ thiết kế trò chơi học tập vào từng bài cụ thể nhằm đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả. Mỗi trò chơi mang một nội dung riêng, cách thức riêng nhưng cùng chung mục đích là thông qua trò chơi mà học sinh nắm được kiến thức và tăng tính hứng thú và say mê học tập. Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò chơi mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy phân môn luyện từ và câu Lớp 4: Tuần 1: Danh từ 1. Mục tiêu bài học: Xác định được Danh từ trong câu, cách sử dụng Danh từ viết, Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, có ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ các di tích lịch sử 2. Tổ chức trò chơi “Du lịch trên sông” Mục đích: + Giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng tư duy, phát huy đước tính tích cực sáng tạo của học sinh. + Hình thành cho các em kỹ năng khi giao tiếp. Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các câu hỏi như trong bài tập (MH): Phía sau ô số là tên các con sông: Cửu Long, sông Lam, sông Hồng, sông Mã, sông Tiền, sông Hậu, sông Đáy, sông Bạch Đằng, sông Cầu) Cách tổ chức: HS chọn 1 ô số bất kì. Chọn ô số nào HS trả lời được tên con sông ứng với mỗi câu hỏi. HS dưới lớp cũng tham gia trò chơi bằng cách nhận xét, bổ sung. Tuần 7: Luyện tập về Động từ 1. Mục tiêu bài học: HS nắm được cách sử dụng động từ trong câu. Từ những từ ngữ miêu tả hoạt động, trạng thái của sự vật. Viết được đoạn văn miêu tả hoạt động của một người cụ thể. 2. Tổ chức trò chơi “Tìm bạn ” * Mục đích: + Giúp cho học sinh có sự chuẩn bị bài kỹ hơn, chăm học hơn, có kỹ năng nhạy bén trong học tập. + Đồng thời tạo sự liên kết với nhau, tạo môi trường thân thiện * Cách tổ chức: GV chia lớp thành hai đội: Bạn đọc trước (đội A) được quyền chỉ định một bạn ở đội B đọc tiếp. Nếu đọc thuộc thì được chỉ định lại một bạn ở đội A. Lần lượt cho đến khi hết giờ. Trường hợp bạn được chỉ định (đội B) mà đọc không được các bạn sẽ đếm ngược thời gian 5-4-3-2-1- hết giờ. Bạn đọc không được phải
- 8 đứng tại chỗ (không được kết bạn). Lúc đó một bạn ở đội A được quyền đọc tiếp và chỉ định sang bạn ở đội B. Tổng kết trò chơi: Dãy nào có ít bạn bị đứng là thắng cuộc ngược lại, dãy nào có nhiều bạn bị đứng là thua cuộc. Tuần 10: Luyện tập về Biện pháp nghệ thuật nhân hoá 1. Mục tiêu bài học: - Nhận biết được màu sắc của các sự vật, cách gọi màu sắc của sự vậtnhận xét được đặc điểm, cách gợi màu sắc của sự vật cùng những cảm xúc. * Năng lực chung: năng lực ngôn ngữ, giao tiếp và hợp tác. * Phẩm chất: chăm chỉ, yêu nước. 2. Tổ chức trò chơi: “Xếp cánh hoa” Mục đích: + Qua trò chơi học sinh biết hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập. + Giúp các em hòa mình vào cuộc chơi tạo một môi trường thân thiện. Chuẩn bị: Hoa nhiều cánh. Trong hai vòng tròn (nhụy hoa), nhụy hoa màu vàng giáo viên ghi: Chủ thể. Nhụy hoa màu trắng giáo viên ghi: Hình ảnh nhân hoá. Trong mỗi cánh hoa GV ghi từ chỉ C - Hình ảnh nhân hoá. để hs ghép cho nhanh. Cách tổ chức: Mỗi nhóm được nhận mười cánh hoa và hai nhụy hoa. Nhiệm vụ của mỗi nhóm là tìm xem cánh hoa nào ứng với từ (Hình ảnh nhân hoá.) thì đính vào nhị hoa màu vàng, còn cánh hoa nào ứng với từ (Chủ thể.) thì đính vào nhụy hoa màu trắng. Đại diện một nhóm đính trên bảng. Tổng kết trò chơi: Giáo viên kiểm tra các nhóm. Nhóm nào xếp cánh hoa đúng, nhanh, đẹp sẽ giành được chiến thắng. III.2. Tính mới, tính sáng tạo III.2.1. Tính mới: Thể hiện rõ sự đầu tư thực sự trong việc xây dựng kế hoạch mỗi bài học, xem bài học nào sẽ sử dụng phương pháp trò chơi học tập và nếu sử dụng thì sử dụng vào lúc nào? Để làm gì? Tổ chức như thế nào để có hiệu quả cao nhất? Khi xây dựng bài học giáo viên không những chọn trò chơi học tập nào phù hợp với bài học hay đơn vị kiến thức mà còn phù hợp với các đối tượng học sinh của lớp mình. Giáo viên tạo điều kiện được cho tất cả học sinh cùng được tham gia và có cơ hội thể hiện mình. HS có thể không trực tiếp tham gia chơi nhưng cũng tiếp nhận được yêu cầu và có phương án trả lời để vừa tham gia cổ vũ vừa có thể nhận xét được kết quả của bạn.
- 9 Các trò chơi nêu trong giải pháp đều củng cố được kĩ năng, kiến thức của bài vừa học, để làm được điều này giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài dạy, nắm được mục tiêu của mỗi bài học. Tên trò chơi ẩn chứa mục tiêu của bài và gây sự chú ý tò mò đối với học sinh. Thông qua giải pháp nêu trên giáo viên có nhận xét đánh giá kịp thời, toàn diện về kết quả, về ý thức tham gia chơi và cũng qua trò chơi ta rèn luyện được đạo đức và nhân cách cho các em. III.2.2. Tính sáng tạo: Giáo viên hoàn toàn chủ động trong việc xác định trọng tâm của giờ học; sử dụng tích cực đồ dùng trực quan sinh động thông qua nguồn tranh ảnh rất dễ sưu tầm trên mạng Internet, Hình thức tổ chức hoạt động học tập linh hoạt, phối hợp được nhiều phương pháp dạy học tích cực. Tạo nhiều sân chơi hoạt động ngoại khóa để học sinh có thể quan sát nhận biết và cảm thụ nhiều hơn về thế giới xung quanh. Việc được tham gia các trò chơi học tập thường xuyên sẽ tạo thành "kĩ năng "cho các em và giảm bớt sự vất vả của giáo viên khi lựa chọn phương pháp trò chơi học tập trong giảng dạy. Những giải pháp nêu trên tạo ra những cơ hội và điều kiện học tập thuận lợi cho học sinh học tập, yêu cầu này một mặt kích thích học sinh phát huy cao độ tính tích cực học tập, mặt khác yêu cầu người giáo viên phải khuyến khích, hướng dẫn và tổ chức học tập để học sinh chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm và giá trị cần thiết cho bản thân. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến đã được áp dụng tại trường TH và THCS Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng và đã được nhân rộng trong phạm vi toàn trường, .. Tôi thiết nghĩ rằng, những biện pháp để nâng cao hiệu quả giúp học sinh luyện nói và viết có thể áp dụng với các khối lớp trong chương trình tiểu học toàn huyện, toàn thành phố. Sáng kiến sẽ được áp dụng và nhân rộng khi đưa ra trong các buổi hội thảo, chuyên đề trường, huyện đưa lên trên mạng Internet thông qua một số trang web của cộng đồng giáo viên: baigiang.vn. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: III.4.1. Hiệu quả về mặt xã hội: Các giải pháp nêu trên khi áp dụng trong quá trình dạy học giúp học sinh luôn tỏ ra hào hứng, yêu thích môn học và tiến bộ nhiều không chỉ ở việc tiếp thu kiến thức về Luyện từ và câu mà còn phát triển nhiều ở các kĩ năng như: hợp tác nhóm, thuyết trình,
- 10 tự quản đáp ứng được mục tiêu của môn tiếng Việt theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Điều này tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học khác và ở bậc học cao hơn. Các giải pháp nêu trên rất phù hợp với việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay. Thông qua trò chơi học tập học sinh còn có thể được rèn luyện về thể lực, rèn luyện về các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè đồng đội trong nhóm, tổ,... Sáng kiến này mang lại hiệu quả tốt và rất thiết thực cho hoạt động giảng dạy của giáo viên và giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức mới một cách tự nhiên, hiệu quả nhất. Đồng thời giúp các em tự tin hơn, nhanh nhẹn, khéo léo và mạnh dạn hơn trong tư duy, trong học tập cũng như trong cuộc sống, góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu thế hệ trẻ, bồi dưỡng lối sống lành mạnh. III.4.2. Giá trị làm lợi khác: Sáng kiến này đem lại hiệu quả không chỉ cho ngành giáo dục đào tạo mà còn mang lại hiệu quả về việc huy động được gia đình học sinh, các trung tâm, tổ chức, các lực lượng xã hội cùng tham gia vào công tác giáo dục Hệ thống trò chơi học tập đã được chúng tôi xây dựng trên cơ sở bám chặt nội dung, cấu trúc của chương trình dạy học phân môn LTVC. Vì vậy tính khả thi rất cao, mỗi trò chơi sẽ mang lại cho học sinh tính hứng thú bởi nó có những cách thức khác nhau, trong quá trình chơi mà học, mà qua việc chơi học sinh tích lũy được thêm kiến thức và kinh nghiệm sống cũng qua đó được hình thành. Trên đây là một số giải pháp của tôi đã tích lũy trong quá trình giảng dạy của mình trong môn Tiếng Việt. Có lẽ sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và bổ sung thêm của các đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn! CƠ QUAN ĐƠN VỊ An Lão, ngày 11 tháng 11 năm 2023 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN (Xác nhận) Hoàng Văn Ngân

