Sử dụng linh hoạt, hiệu quả 1 số trò chơi trong dạy học Tiếng Việt 4

docx 18 trang Tú Anh 17/09/2026 230
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng linh hoạt, hiệu quả 1 số trò chơi trong dạy học Tiếng Việt 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsu_dung_linh_hoat_hieu_qua_1_so_tro_choi_trong_day_hoc_tieng.docx

Nội dung tài liệu: Sử dụng linh hoạt, hiệu quả 1 số trò chơi trong dạy học Tiếng Việt 4

  1. I. MỞ ĐẦU. 1. Lí do lựa chọn biện pháp Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đang được mọi người trong ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi “ Cách dạy - cách học “nhằm tạo ra một thế hệ đáp ứng yêu cầu: “công nghiệp hoá - hiện đại hoá ”. Trong quá trình dạy học tôi đã phấn đấu thực hiện phương châm “ lấy học sinh làm trung tâm ” thầy chủ đạo, trò chủ động. Thiết kế bài học là một chuỗi hoạt động trong đó học sinh tích cực tham gia giải quyết các tình huống có vấn đề: Thầy hỏi trò; trò hỏi trò; trò hỏi thầy ...học nhóm qua phiếu giao việc. Thế nhưng đối với học sinh tiểu học các hình thức học tập trên các em chưa thoát ra khuôn khổ gò ép tâm lí, “ Học mà chơi , chơi mà học” vẫn chưa đáp ứng được . Vậy phải làm gì để thoả mãn tâm lí đó và tạo ra một tiết học “Nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Trò chơi là một hình thức học tập góp phần làm sôi nổi các hoạt động dạy học. Chính vì vậy, việc tổ chức trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt là một yêu cầu thiết yếu góp phần nâng cao chất lượng học tập; giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên không áp đặt, gò bó, căng thẳng. Trong học tập không phải mọi kiến thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành qua hoạt động cá nhân mà cần thông qua các hoạt động nhóm, hoạt động cả lớp. Trong quá trình tham gia các trò chơi thì học sinh sẽ bộc lộ được quan điểm cá nhân, tiếp thu những cái hay, cái đẹp của người khác để từ đó nâng cao trình độ của bản thân. Trong định hướng đổi mới phương pháp hiện nay, đặc biệt theo Chương trình GDPT 2018, dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh để học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề. Qua đó phát triển được năng lực, phẩm chất của mình. Việc dạy học theo hình thức thầy giảng trò nghe và làm theo mẫu gây cho học sinh thụ động không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của bản thân. Trong khi đó trò chơi học tập là một hoạt động vừa nhẹ nhàng lại hiệu quả vì các em vừa được chơi vừa được học bài. Trên thực tế nhiều giáo viên tổ chức trò chơi học tập trong giờ học chưa khoa học, chưa gây hứng thú cho học sinh, mang tính hình thức. Đặc biệt trong giờ học Tiếng Việt, một trò chơi giáo viên 1
  2. đưa ra chưa hợp lý với nội dung giờ học, chưa cung cấp được kiến thức cần hướng tới mà thiên về sự giải trí nhiều hơn. Xuất phát từ tình hình thực tế về chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Chiến Thắng còn chưa cao. Nhiều em chưa biết cách dùng từ đặt câu, dùng dấu câu, viết văn, kể chuyện.. Tôi suy nghĩ cần tìm ra giải pháp giúp các em phần nào khắc phục tình trạng trên. Chính vì thế tôi đã chọn đề tài “Sử dụng linh hoạt, hiệu quả một số trò chơi trong dạy học Tiếng Việt 4”. 2. Đối tượng áp dụng. - Khả năng áp dụng của biện pháp mới nhằm áp dụng vào việc dạy học môn Tiếng Việt 4 giúp các em có cái nhìn thiện cảm và hứng thú hơn khi học Tiếng Việt. II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP. 1. Mục tiêu của biện pháp. Thông qua việc tổ chức các trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt giúp cho giáo viên có kĩ năng tốt trong việc tổ chức các hình thức trò chơi học tập phù hợp với từng nội dung, từng phân môn của môn Tiếng Việt. Qua các hoạt động trò chơi học tập, học sinh tiếp thu và hiểu bài tốt nhất. Đồng thời hình thành, phát triển cho học sinh các kĩ năng như: kĩ năng tương tác, kĩ năng giao tiếp. Thông qua các trò chơi giúp học sinh vừa được học lại vừa được chơi rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học. Do vậy học sinh hứng thú tiếp thu bài tốt hơn. 2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp. 2.1 Cơ sở lí luận. 2.1.1 Cơ sở về tâm lý. Nếu vui chơi là một dạng hoạt động giải trí tự nguyện của mọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về thần kinh, tâm lí thì trò chơi là sự vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ mà người tự nguyện tham gia phải tuân thủ theo. Vui chơi của cá nhân được tổ chức dưới dạng trò chơi thì nó sẽ mang ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người chơi, đặc biệt là đối với thiếu niên nhi đồng và sẽ có tác dụng hình thành nên những phẩm chất nhân cách cho trẻ. Khi học tập học sinh sẽ sử dụng các giác quan và các bộ phận của cơ thể để tham gia vào việc học. Vì vậy hình thức tổ chức dạy học hiệu quả nhất là thầy 2
  3. tổ chức và trò hoạt động. Học sinh ở lứa tuổi này thường nhạy cảm, luôn có sự so sánh mình với bạn. Do vậy giáo viên cần tạo cho học sinh có cơ hội tự khẳng định bản thân trước tập thể. Người thầy phải đưa ra các biện pháp dạy học thật linh hoạt và phù hợp với đối tượng học sinh. Thông qua đó giúp học sinh tự đánh giá và đánh giá bạn về kết quả học tập một cách chính xác. 2.1.2 Cơ sở về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Theo định hướng Giáo dục phổ thông 2018 coi trọng dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, độc lập của học sinh để giúp các em giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh được kiến thức là những yêu cầu trong việc nâng câo chất lựơng dạy và học. Việc tổ chức các trò chơi học tập tạo cho học sinh có thời gian nghiên cứu, suy nghĩ, chia sẻ những vướng mắc của bản thân. Khi tham gia các trò chơi học tập, học sinh sẽ biết được trình độ hiểu biết của mình và cần điều chỉnh , học hỏi thêm những gì. 2.2 Cơ sở thực tiễn Trường Tiểu học Chiến Thắng tổ chức học 2 buổi trên ngày , cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng điều kiện cho việc giảng dạy và học tập . Nhà trường tạo điều kiện học các môn Liên kết. Trường học có đủ thư viện , nhà đa năng, sân chơi , bãi tập . Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của phụ huynh học sinh, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, Phòng giáo dục, Sở giáo dục. Hệ thống văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện cho giáo viên luôn chủ động đề xuất giảng dạy đảm bảo theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. Giáo viên có thể vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Một số công văn như: Công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 03 tháng 02 năm 2006 “V/v Hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ chính của việc điều chỉnh nội dung dạy học là nhằm đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên và điều chỉnh một số nội dung học tập của học sinh. Các nhà trường chủ động cụ thể hoá phân phối chương trình học tập của học sinh phù hợp với từng lớp học cụ thể, đảm bảo yêu cầu giáo dục học sinh tiểu học và yêu cầu nhiệm vụ quy định trong chương trình Tiểu học. 3
  4. Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. Công văn 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07 tháng 6 năm 2021 “V/v Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ trưởng chuyên môn cùng với giáo viên đề xuất với Hiệu trưởng quyết định thời lượng dạy học từng bài học, môn học trong tuần cho phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và hoàn cảnh địa phương nhằm đảm bảo yêu cầu mà chương trình đã quy định Thông tư 22/2016 , Thông tư 27/2020 về việc Quy định đánh giá nhận xét học sinh. *Thực trạng tại trường, lớp. - Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt ở trường tôi thấy đa số các giờ học Tiếng Việt thường rất đơn điệu, không khí giờ học trầm. - Trong tiết học Tiếng Việt không phát huy được tiềm năng ở học sinh khá giỏi. Do đó tư chất học sinh chậm phát triển. - Học sinh rất nhút nhát trong các hoạt động, nhàm chán trong việc học tập, khả năng tự bộc lộ bản thân yếu, thiếu tự tin khi trình bày vấn đề trước tập thể, càng không dám thể hiện mình trước dám đông, khả năng diễn đạt trước tập thể còn nhiều hạn chế. Trước thực trạng đó đã cho thấy kết quả học tập của học sinh rất thấp. Khi học môn Tiếng việt học sinh không tập trung, tiếp thu bài chậm, học sinh nhút nhát , thiếu tự tin, rụt rè trong giao tiếp. Đây là kết quả khảo sát đầu năm học vừa qua. Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % 4C 36 13 36,1 18 50 5 13,9 3. Nội dung biện pháp. Việc tổ chức các trò chơi học tập khi giảng dạy môn Tiếng Việt sẽ làm thay đổi không khí học tập của lớp, làm cho không khí trở nên dễ chịu, thoải mái hơn. Học sinh sẽ thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái và khoẻ hơn sau một quá trình tập trung cao vào việc tiếp nhận kiến thức. Bên cạnh đó trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn, sáng tạo 4
  5. cho các em. Mặt khác trò chơi học tập là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiến thức khi học.Các biện pháp cụ thể tôi đã áp dụng: 3.1. Biện pháp 1: Chọn lựa nội dung trò chơi phù hợp, hấp dẫn, thu hút 100% học sinh tham gia. 3.2. Biện pháp 2: Luật chơi chặt chẽ, công khai, công bằng và dễ đánh giá. 3.3. Biện pháp 3: Nắm chắc quy trình khi tổ chức các trò chơi học tập 3.4. Biện pháp 4: Trò chơi dễ thực hiện, tránh rắc rối. 3.5. Biện pháp 5: Chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để tổ chức các trò chơi. 3.6. Biện pháp 6: Phải tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Việt phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, xây dựng được sự tự tin, mạnh dạn, chủ động, sáng tạo của học sinh. 4. Cách thức thực hiện các biện pháp. Biện pháp 1: Chọn lựa nội dung trò chơi phù hợp, hấp dẫn, thu hút 100% học sinh tham gia. - Việc lựa chọn các trò chơi học tập phải đáp ứng những yêu cầu của mục đích dạy học. Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học. - Trò chơi phải được lựa chọn sao cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. - Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng học sinh của mình. - Lựa chọn trò chơi phải đảm bảo các yếu tố: lứa tuổi, vừa sức; áp dụng vào khi nào trong tiến trình bài dạy và trong chương trình học. - Có thể trò chơi khởi động trước khi bắt đầu bài học tạo cho học sinh tâm lí vui vẻ , hào hứng, sôi nổi tạo tâm lí vui vẻ cho tiết học vừa củng cố lại kiến thức của bài. - Có thể trò chơi trước khi kết thúc tiết học giúp học sinh kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí suy nghĩ căng thẳng trở thành “ Vui mà học, học mà chơi” hết sức sinh động. - Có thể trò chơi sau khi hoàn thành một chương. Với cách này sẽ giúp cho học sinh hệ thống lại kiến thức một cách sinh động và hiệu quả. Biện pháp 2: Luật chơi chặt chẽ, công khai, công bằng và dễ đánh giá. - Khi giáo viên đưa trò chơi học tập vào giảng dạy, người giáo viên cần tìm hiểu kĩ luật chơi của trò chơi đó. Luật chơi cần được nêu rõ, cụ thể trước toàn học 5
  6. sinh để các em nắm được luật chơi của trò chơi đó. Giáo viên cần yêu cầu học sinh nghiêm túc chấp hành đúng luật chơi khi tham gia chơi vì thông qua đó giúp học sinh rèn kĩ năng làm việc một cách khoa học, nghiêm túc, luôn chấp hành nội quy, quy định trong nhà trường cũng như trong cuộc sống. - Khi tổ chức chơi, giáo viên cần chú ý lựa chọn nội dung kiến thức trong các trò chơi phải đảm bảo công bằng cho từng đối tượng học sinh và các đội chơi. Ví dụ khi tổ chức trò chơi “Tiếp sức”, giáo viên lựa chọn hình thức chơi theo nhóm thì giáo viên cần lựa chọn nội dung yêu cầu khi chơi của các nhóm phải giống nhau đảm bảo công bằng giữa các đội. - Trước khi tổ chức chơi, giáo viên cần nghiên cứu cách thức đánh giá, nhận xét, tổng kết rút kinh nghiệm. Cách thức đánh giá phải thật gần gũi, dễ thực hiện với học sinh, không quá áp lực, tránh gây căng thẳng cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy phân môn Chính tả, giáo viên tổ chức trò chơi “Ai nhanh, ai đúng” ở phần bài tập lựa chọn phụ âm đầu điền vào chỗ trống. Giáo viên yêu cầu học sinh tích vào phía sau bảng con một tích sau mỗi câu trả lời đúng. Khi kết thúc trò chơi, giáo viên hỏi số lượng câu trả lời đúng rồi tuyên dương khen thưởng, động viên các bạn chưa có nhiều câu trả lời đúng. Điều này sẽ giúp các em luôn có sự hứng khởi trong các phần tiếp theo của giờ học. Biện pháp 3: Nắm chắc quy trình khi tổ chức các trò chơi học tập a. Chuẩn bị trò chơi. - Giáo viên cần nghiên cứu tài liệu: Chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kĩ năng ,tài liệu hướng dẫn học tập, sách tham khảo: sách báo, tạp chí giáo dục, qua video, .. - Giáo viên cần nghiên cứu thực tế lớp học của mình xem có học sinh khuyết tật không, nhu cầu, sở thích, hoàn cảnh Tìm hiểu xem học sinh lớp yếu ở mạch kiến thức nào, để lựa chọn trò chơi cho phù hợp, giúp các em củng cố kiến thức để hiểu bài một cách chắc chắn. b. Lựa chọn trò chơi: + Việc lựa chọn các trò chơi học tập phải đáp ứng những yêu cầu của mục đích dạy học.Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp cụ thể trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học bộ môn hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao cho đa 6
  7. dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh. + Lựa chọn thời điểm chơi có thể trò chơi trước khi kết thúc tiết học hoặc trò chơi khởi động tiết học hoặc trò chơi tổ chức giữa tiết học. Mỗi thời điểm đều có ưu điểm là kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí suy nghĩ căng thẳng trở thành “ Vui mà học, học mà chơi” hết sức sinh động. c. Xây dựng và thiết kế trò chơi -Thiết kế trò chơi học tập thường qua các bước như sau: - Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào? - Đồ dùng phục vụ trò chơi. - Nêu luật chơi. - Số người tham gia. - Nêu cách chơi, cách tính điểm. - Thời gian chơi. d. Cách thức tiến hành chơi trò chơi. - Giới thiệu trò chơi, hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi. - Tổ chức chơi. - Tổng kết, đánh giá, tuyên dương – Một HS hoặc GV nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện. Biện pháp 4: Trò chơi dễ thực hiện, tránh rắc rối. - Có nhiều dạng trò chơi học tập, việc lựa chọn các dạng chơi học tập cho một bài cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu nội dung bài. Giáo viên cần xác định được một số dạng trò chơi sau: - Trò chơi vận động đó là nhóm trò chơi yêu cầu học sinh tham gia phải vận động cơ thể để hoàn thành trò chơi. Với dạng trò chơi này đòi hỏi không gian chơi phải rộng nên việc áp dụng các trò chơi của dạng này vào giảng dạy môn Tiếng Việt là hạn chế, khó thực hiện. Tuy nhiên người giáo viên có thể chọn những trò chơi có một phần yêu cầu về vận động về cơ thể để thích hợp với điều kiện thực tế như trò chơi “Tiếp sức”. Trong trò chơi này, giáo viên cho học sinh chơi theo nhóm nhỏ, các bạn còn lại cổ vũ, động 7
  8. viên người chơi. Học sinh sẽ phải chạy nhanh lên bảng để thực hiện yêu cầu của giáo viên đưa ra. -Trò chơi cá nhân đó là trò chơi cho từng em tham gia. Đây là dạng trò chơi thường hay sử dụng vì tất cả học sinh đều được tham gia chơi, được nhận xét, đánh giá lẫn nhau, có sự ganh đua, tạo không khí sôi nổi trong giờ học. Thông qua đó, học sinh nắm được kiến thức, biết được trình độ của bản thân, bổ sung, điều chỉnh kiến thức, kĩ năng của mình. Ví dụ: Trong chò chơi “Rung chuông vàng” tôi có thể áp dụng ở phần kiểm tra bài cũ, củng cố sau bài học của các tiết dạy môn Tiếng Việt. -Trò chơi tập thể đó là trò chơi cần nhiều người tham gia mới hoàn thành. Đây cũng là trò chơi tạo được không khí sôi nổi, tạo không khí hứng khởi cho người học nhưng không gian chơi phải rộng. Vì vậy, việc áp dụng các trò chơi thuộc dạng này thường ít hơn. Trong các giờ dạy Tiếng Việt, tôi có thể sử dụng trò chơi “Hộp quà âm nhạc” hay “Truyền điện”. Biện pháp 5: Chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để tổ chức các trò chơi. Đây là khâu vồ cùng quan trọng để trò chơi học tập đạt dược kết quả cao. Đặc thù của trò chơi học tập Tiếng Việt là trò chơi có nội dung liên quan đến Tiếng Việt, nhằm củng cố kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho việc học Tiếng Việt. Do vậy giáo viên cần chuẩn bị thật tốt các điều kiện về không gian, địa điểm, phương tiện, tâm thế của học sinh. + Địa điểm: Cần đủ không gian làm việc cho mỗi nhóm. +Phương tiện: Đủ các trang thiết bị cần thiết cho mỗi nhóm như: đồ dùng học tập,bảng nhóm, phiếu học tập,thẻ chữ,.. Đặc biệt tận dụng triệt để các trang thiết bị hiện đại như tivi, maý tính, máy soi để tạo ra các trò chơi thật hữu ích. Ví dụ: Giáo viên tổ chức trò chơi “Rung chuông vàng”, “Hộp quà bí mật”, “Ô chữ kì diệu” giáo viên tạo các hiệu ứng về âm thanh, hình ảnh gây sự kích thích, tò mò cho người học. + Giáo viên cần nhắc học sinh cùng chuẩn bị đồ dùng đơn giản để chơi: đồ dùng học tập có sẵn, đồ dùng em sưu tầm, tự làm. + Giáo viên cần nhắc nhở học sinh khi tham gia chơi cần có thái độ tích cực , hợp tác, có ý thức trách nhiệm trong nhóm. 8
  9. Biện pháp 6: : Tăng cường sử dụng các trò chơi học tập để dạy học môn Tiếng Việt sao cho phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, xây dựng được sự tự tin, mạnh dạn, chủ động, sáng tạo của học sinh. a. Phân môn Luyện từ và câu. Với dạng bài : Tìm các từ ngữ. Trò chơi “Tiếp sức” * Mục tiêu : Giúp học sinh củng cố mở rộng thêm từ, tích luỹ được vốn từ. Giúp học sinh phát huy tính chủ động và tự tin . * Chuẩn bị: bảng nhóm, bút dạ. * Thời gian : 3 phút * Luật chơi – Cách chơi: Chơi theo đội, mỗi nhóm học tập là một đội, giáo viên giao việc cho các đội trong thời gian 3 phút, học sinh tìm từ và ghi vào bảng nhóm của nhóm mình các từ đúng theo yêu cầu thuộc chủ điểm. Hết thời gian các đội trình bày. Đội nào tìm được nhiều từ đúng thì đội đó thắng . Ví dụ : Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Đồ chơi - trò chơi”, giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ miêu tả tình cảm thái độ của con người khi tham gia các trò chơi. Kết quả học sinh sẽ tìm được các từ như: hào hứng, say mê, say sưa, đam mê, mê, ham thích ... b. Phân môn tập đọc. Dạng bài học thuộc lòng. *Trò chơi: “ Đọc thơ truyền điện” *Mục tiêu : Rèn kĩ năng đọc thuộc nhanh các câu thơ trong bài đọc thuộc lòng ở trong sách giáo khoa 4. Qua trò chơi luỵện trí thông minh và phản xạ nhanh , kịp thời. * Chuẩn bị: Các bài thơ đã học sách giáo khoa 4. * Thời gian : 3 phút * Luật chơi – Cách chơi:Lớp chia thành 3 đội, mỗi đội cử đại diện bắt thăm để giành quyền đọc trước . Đại diện nhóm đọc trước đứng lên đọc câu thơ rồi chỉ định thật nhanh cho bạn đội khác. Đội nào đọc được nhiều và đúng đội đó thắng. Ví dụ: Khi dạy bài : “Nếu chúng mình có phép lạ” Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện đọc câu thơ em thích sau đó chỉ định bạn đội khác , nếu bạn không đọc thuộc thì đội đố thua. c. Trong phân môn Chính tả : dạng bài điền đúng âm, vần. * Trò chơi: Đố chữ 9
  10. * Mục tiêu: Rèn kĩ năng viết đúng các chữ có âm đầu, kết hợp củng cố vốn từ qua bài tập chính tả âm vần SGK Tiếng việt 4. Luyện phản xạ nhanh khi nhận biết chữ viết đúng, chữ viết sai chính tả. * Chuẩn bị: bảng lớn , bút dạ. * Thời gian: 3-5 phút * Luật chơi , cách chơi: Chia lớp thành 2 nhóm , một nhóm đọc to từ và nhóm kia đoán âm đầu của từ đó. Nếu nhóm đoán đúng sẽ ghi bảng.Nhóm nào ghi nhiều từ đúng nhóm đó sẽ thắng. d. Trong phân môn tập làm văn: Dạng bài trình bày miệng. * Trò chơi “Thi đố bạn” * Mục tiêu: Giúp HS hình thành bài văn có hệ thống. Tập tác phong nhanh nhẹn. * Chuẩn bị: - 1 bảng phụ đã viết sẵn đoạn văn. - 1 số băng giấy đã viết sẵn các câu văn trong đoạn văn trên. * Cách chơi. luật chơi: Mỗi tổ chuẩn bị từ hai đến ba đoạn văn mẫu, trong đoạn văn đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật. Tổ này đọc đoạn văn của tổ mình, yêu cầu tổ bạn nêu biện pháp nghệ thuật mà tổ đã sử dụng trong đoạn văn đó. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn văn là hình ảnh so sánh, nhân hóa, các so sánh, tác dụng của nó. Cứ như vậy đến tổ khác lên đọc đoạn văn rồi mời tổ bạn tìm và nhận xét.Đội nào nói đúng, nhanh là thắng cuộc. Ví dụ: Bài tả cây hoa hồng. Một vài đoá hồng khoe sắc một cách tự nhiên Các cánh xoè ra mạnh mẽ như phô trương sắc đẹp của mình Cánh hoa hồng màu đỏ thắm Giữa bông hoa và các đốm nhuỵ vàng tươi toả hương thơm ngát Chỉ một làn gió nhẹ là tất cả chao động 5. Yêu cầu khi thực hiện biện pháp Để thực hiện tốt các trò chơi học tập ở các biện pháp tôi đã nêu ra thì đối với học sinh cần có những yêu cầu sau: - Lắng nghe giáo viên triển khai luật chơi, cách chơi để tham gia chơi một cách đúng luật. - Tâm thế mạnh dạn, sẵn sàng để chơi. - Qua trò chơi tiếp tục củng cố và mở rộng thêm kiến thức. 10
  11. * Với sự chuẩn bị đúng và đảm bảo các yêu cầu trên thì hoạt động “Trò chơi học tập” mới thực sự đem lại hiệu quả. III. THỰC NGHIỆM TẠI ĐƠN VỊ 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực hiện - Đối tượng: Học sinh lớp 4C, trường Tiểu học Chiến Thắng - Nội dung: Dạy học theo hướng tiết học vui, phát huy năng lực của HS ở môn Tiếng Việt. - Phương pháp thực hiện: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp trải nghiệm. 2. Tiến trình thực nghiệm Bước 1: Giúp học sinh nắm được luật chơi, cách thức của các dạng trò chơi học tập, hiểu được nội dung yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm khi tham gia các trò chơi Ngay từ đầu năm học, tôi đã cung cấp cho học sinh những trò chơi học tập mà tôi dự kiến sử dụng thông qua các giờ học đầu năm. + Với những trò chơi các em đã được các thầy cô ở lớp dưới thường xuyên tổ chức thì tôi chỉ nhắc lại để các em nhớ lại luật chơi, cách chơi. + Với những trò chơi mới lạ, tôi chủ động nghiên cứu thật kĩ luật chơi, cách chơi. Sau đó, tôi truyền đạt tới học sinh thông qua nhiều tiết học Tiếng Việt để các em có thể chơi một cách thành thạo. + Giáo viên luôn phải truyền đạt được nội dung kiến thức cần cung cấp thông qua trò chơi đó để học sinh khắc sau kiến thức. Để thực hiện tốt điều này, tôi thường cho học sinh làm bài tập theo nhóm hoặc cá nhân. Sau đó tổ chức trò chơi học tập để kiểm tra kết quả học tập của các em. + Thông qua trò chơi, tôi luôn động viên, nhắc nhở các em chơi với tinh thần đoàn kết, hợp tác, có ý thức giữ an toàn cho bản thân và cho các bạn. Bước 2:Thực hành Từ yêu cầu cần đạt thông qua các trò chơi, tôi đã lựa chọn các trò chơi học tập thật phù hợp với từng phân môn, từng dạng bài cụ thể của môn Tiếng Việt lớp 4. Bước 3: Tổng kết, đánh giá Sau mỗi trò chơi học tập được tổ chức, tôi luôn tổ chức cho học sinh được đánh giá kết quả chơi của bản thân, các bạn, đội chơi. Học sinh được bộc lộ ý kiến cá nhân của mình, được nhận xét đánh giá các bạn theo đúng tinh thần của 11
  12. Thông tư 22/2016. Sau phần ý kiến đánh giá của học sinh, tôi luôn có những đánh giá, nhận xét chung về quá trình học sinh tham gia chơi như thái độ, kỹ năng chơi, nội dung kiến thức cung cấp trong trò chơi, tổng kết, tuyên dương, động viên tất cả học sinh. 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm Qua thời gian vận dụng đổi mới các phương pháp vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả học Tiếng Việt 4, tôi nhận thấy giải pháp đã mang lại những kết quả tốt đẹp. + Học sinh có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm, được tranh luận và đánh giá lẫn nhau. + Các em mạnh dạn tự tin khi chiếm lĩnh kiến thức thông qua các trò chơi học tập mà các em được trực tiếp tham gia. + Học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức và áp dụng mẫu một cách máy móc mà còn được vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào luyện tập thực hành, củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng diễn đạt trong cuộc sống, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích luỹ. + Việc vận dụng Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, tạo ra bầu không khí dễ chịu, thoải mái trong giờ học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. + Xây dựng khối đoàn kết cho học sinh. + Chất lượng giảng dạy được nâng lên. Đây là kết quả khảo sát lớp 4C giữa học kì I Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % 4C 36 17 47,2 19 52,8 0 0 IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận: Kĩ năng tổ chức dạy học đưa trò chơi học tập vào bài dạy là một hình thức dạy học tiến bộ, nó giúp ích cho học sinh rất nhiều, cần được tổ chức rộng rại trong các trường học, nhưng nó đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp và cách thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng nội dung, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Để tổ chức dạy có đưa trò chơi học tập thành công đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với trò chơi và thiết kế được các hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám 12
  13. phá kiến thức mới một cách tốt nhất. Khi tổ chức dạy học theo cách thức tổ chức này thì việc quản lý trò chơi, điều hành trò chơi cũng là yếu tố rất quan trọng, đảm bảo trong lớp em nào cũng được chơi mà thực chất là học tập. Bên cạnh đó thi yếu tố cơ sở vật chất phòng học cũng như đồ dùng học tập, tài liệu liên quan cũng rất qua trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, bản thân người giáo viên cần tự học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong đó có phương pháp, kĩ năng tổ chức các trò chơi học tập. Người giáo viên cần yêu nghề, sáng tạo, khắc phục khó khăn, kiên trì trong công việc. Các biện pháp không chỉ áp dụng với môn Tiếng Việt mà có thể áp dụng ở tất cả các môn này áp dụng được cho tất cả các môn học ở bậc tiểu học, trong các bài cung cấp kiến thức mới, luyện tập thực hành, ôn tập rèn kỹ năng. Tổ chức hoạt động dạy-học bằng trò chơi học tập nó còn rèn cho học sinh các kĩ năng cơ bản như nghe, nhìn, đọc, viết, tính toán, kĩ năng sống, kí năng học tập, biết đoàn kết, tương trợ, hợp tác lẫn nhau, có những đức tính tốt cần thiết cho bản thân và xã hội. Như vậy tổ chức lồng ghép các trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt rất phù hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh, tạo được sự hứng khỏi của người học, phát huy được sự sáng tạo của người học sau những giờ phút học tập thoải mái, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường. 2. Đề xuất - Nhà trường cần trang bị cơ sở vật chất phòng học tốt hơn như bàn ghế học sinh cho tiện khi tổ chức hoạt động nhóm chơi mang tính cơ động hơn. Nhà trường tổ chức các chuyên đề tiết học vui để thông qua đó giáo viên có thể lồng ghép các trò chơi học tập vào giảng dạy. - Các đồng chí giáo viên cần xem xét kĩ trước khi tổ chức hoạt động trò chơi học tập, nhất là sự chuẩn bị về đồ dùng học tập khi tổ chức theo hoạt động này. - Ban giám hiệu cần có sự chỉ đạo trong việc thực hiện triển khai kĩ năng tổ chức hoạt động dạy học thông qua trò chơi học tập. Nhà trường xem xét kĩ nội dung các biện pháp, triển khai thực hiện để nâng cao chất lượng dạy và học. - Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng để dạy ở lớp 4C do tôi chủ nhiệm. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu và trình độ, kinh nghiệm còn 13
  14. hạn chế nên những vấn đề nêu trên không khỏi có sai sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành của Ban giám hiệu nhà trường, Hội đồng thẩm định, các bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học ngày càng tốt hơn. Chiến Thắng, ngày 10 tháng 11 năm 2021 TÁC GIẢ Lê Thuỳ Dung 14
  15. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tiếng Việt 4 tập 1 -Nguyễn Minh Thuyết - NXBGD 2. Sách giáo viên Tiếng Việt 4- Tập 1 -Nguyễn Minh Thuyết - NXBGD 3. Hướng dẫn dạy học Tiếng Việt 4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 5. Công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 03 tháng 02 năm 2006 “V/v Hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo 6. Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. 7 . Công văn 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07 tháng 6 năm 2021 8. Thông tư 22/2016 , Thông tư 27/2020 về việc Quy địnhđánh giá nhận xét học sinh. 15
  16. MỤC LỤC STT Nội dung Trang Ghi chú 1 I.Mở đầu 3 2 1.Lí do lựa chọn biện pháp 3 2. Đối tượng áp dụng 4 II. Nội dung biện pháp 5 1.Mục tiêu của biện pháp 6 2. Cơ sở lí luận và cớ sở thực tiến 7 2.1 Cơ sở lí luận 8 2.2. Cơ sở thực tiễn 9 3. Nội dung biện pháp 10 4. Quy trình thực hiện biện pháp 11 III.Thực nghiệm biện pháp tại đơn vị 12 1.Đối tượng, nội dung phương pháp thực nghiệm 13 2.Tiến trình thực nghiệm 14 3.Đánh giá kết quả thực nghiệm 15 IV. Kết luận, đề xuất. 16
  17. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG 17