Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018

docx 14 trang Tú Anh 17/09/2026 310
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_2_theo_chu.docx

Nội dung tài liệu: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018

  1. I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, môn học Tiếng Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình. Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, là một môn học chính, trong đó không thể không kể đến môn Tập đọc. Tập đọc là một phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt bậc Tiểu học, phân môn này giữ vai trò rất quan trọng, trước hết giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng đọc(đọc đúng, diễn cảm) một văn bản. Đây cũng là một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Nếu học sinh đọc tốt, đọc một cách có ý thức sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như có hình ảnh, những kỹ năng này các em sẽ sử dụng suốt đời. Từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới. Đối với học sinh lớp 2 các em bắt đầu bước sang giai đoạn đọc nhanh đọc đúng đọc lưu loát, trôi chảy với các em học sinh lớp 3,4,5. Bên cạnh đó, cũng yêu cầu cao hơn là đọc diễn cảm, đọc phải thể hiện được nội dung, tình cảm của bài để từ đó các em bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc. Mỗi chúng ta phải làm thế nào? để thông qua môn tập đọc giúp học sinh không những đạt được vấn đề đọc thạo, mà phải hiểu nội dung của văn bản.Vậy người giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm sao? cho học sinh có cảm tình với bài tập đọc, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc. Trong thực tế hiện nay để thực hiện được vấn đề này người giáo viên phải thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, việc rèn đọc cho học sinh là hết sức cần thiết nhưng đọc như thế nào để người nghe hiểu được nguyên vẹn nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của văn bản, nôi cuốn được người nghe, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của văn bản. Học sinh không những đọc được nội dung văn bản, mà cũng phải đọc hay, đọc diễn cảm, đây là mục tiêu mà các thày cô giáo dạy lớp 2 cần phải rèn và là đích để đạt tới. Trong tình hình thực tế hiện nay về chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 2A trường Tiểu học Chiến Thắng, tôi nhận thấy đa số các em đó đọc to rõ ràng song cũng một số em đọc chưa lưu loát, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa rõ phụ âm đầu l/n; s/x; tr/ch đặc biệt là âm: l/n và kỹ thuật đọc đa số các em đọc chưa thể hiện được tình cảm nội dung văn bản, các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm từ 1
  2. chìa khoá, trong khi sắm vai, đọc đối thoại các em cũng lúng túng, các em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình. Vì những lý do trên và do những yêu cầu đổi mới của giáo dục Tiểu học tôi xin trình bày một vài quan điểm của bản thân để khắc phục tình trạng trên. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018”. 2. Đối tượng áp dụng Học sinh lớp 2A trường Tiểu học Chiến Thắng II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP 1. Mục tiêu của biện pháp Thông qua việc rèn kĩ năng đọc trong giờ học Tiếng Việt giúp cho giáo viên có kĩ năng tốt trong việc tổ chức các hình thức học tập phù hợp với từng nội dung, từng phân môn của môn Tiếng Việt; tập trung rèn kĩ năng đọc cho học sinh, đọc đúng làm chủ được tốc độ, hạn chế lỗi phát âm diễn đạt. Thông qua đó giúp học sinh say mê hứng thú khi học, đồng thời phát huy kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp của người học. 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để lựa chọn biện pháp 2.1. Cơ sở lí luận Việc đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp, thay sách giáo khoa như là một bước đột phá sống còn của giáo dục nhằm nâng cấp sản phẩm bắt kịp xu thế toàn cầu hóa của thời đại và bước đầu đã cho thấy những kết quả rất đáng ghi nhận. Cuộc chiến chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, việc nói không với hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo, nói không với việc học sinh ngồi nhầm lớp cho dù vẫn đang rất gian nan song bước đầu đã nhận được sự đồng thuận cao từ các thầy cô giáo, các em học sinh và cả dư luận xã hội. Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đang từng bước tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, gắn bó và đáp ứng tối đa sự đòi hỏi của thực tiễn. Những năm gần đây Đảng, nhà nước, ngành đã dành những sự quan tâm đầu tư đáng kể cho giáo dục. Những chính sách, chủ trương mới liên tục được cập nhật đã mở ra những lối đi mới cho sự phát triển của giáo dục nước nhà. Dạy học là con đường thuận lợi nhất, giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn nhất, có thể nắm được một khối lượng kiến thức cần thiết. Nó được tiến hành một cách có tổ chức có kế hoạch. Giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống, năng lực hoạt động trí tuệ và tư duy sáng tạo. Từ đó giúp học sinh có hành động đúng đắn trong học tập. 2
  3. Ngoài ra, đọc giúp các em học sinh chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. Nhờ biết đọc, con người có thể tự học, học nữa, học mãi, học suốt đời. Chính vì vậy “đọc” có ý nghĩa to lớn ở bậc Tiểu học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập, nó là công cụ để học các môn học khác, đọc tốt giúp các em có kĩ năng giao tiếp có giáo dục. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, thể hiện 4 chức năng: nghe, nói, đọc, viết. Đọc không phải chỉ là công cụ chuyển kí hiệu chữ viết thành âm thanh mà còn là quá trình nhận thức để có kĩ năng thông hiểu những gì mình đọc được. Tuy nhiên, do hạn chế năng lực của người dạy, người học, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất và môi trường dạy học nên công bằng mà nói để nhanh chóng đuổi kịp các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới thì sự nỗ lực tự vận động là điều chúng ta không thể không quan tâm. Trong đó, vai trò của người thầy được xác định như là yếu tố mấu chốt để giải quyết kịp thời những bức bách, mâu thuẫn đang hiện hữu trong nền giáo dục chúng ta. Vì vậy, sự trăn trở cho mỗi giờ dạy, mỗi môn học là điều mà mỗi giáo viên như chúng tôi không thể không quan tâm. 2.2. Cở sở thực tiễn Trường Tiểu học Chiến Thắng tổ chức học 2 buổi trên ngày, cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng điều kiện cho việc giảng dạy và học tập. Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của phụ huynh học sinh, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, Phòng giáo dục, Sở giáo dục. Hệ thống văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện cho giáo viên luôn chủ động đề xuất giảng dạy đảm bảo theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. Giáo viên có thể vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Một số công văn như: Thông tư 32/2018TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Ban hành chương trình GDPT”. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, ngày 4 tháng 5 năm 2020 về việc “Ban hành quy định đánh giá nhận xét học sinh Tiểu học”. Công văn 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07 tháng 6 năm 2021 “V/v Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ trưởng chuyên môn cùng với giáo viên đề xuất với Hiệu trưởng quyết định thời lượng dạy học từng bài học, môn học trong tuần cho phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và hoàn cảnh địa phương nhằm đảm bảo yêu cầu mà chương trình đã quy định. * Thực trạng tại trường, lớp. 3
  4. - Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt ở trường tôi thấy đa số các giờ học Tiếng Việt còn nhiều học sinh chưa tự tin đọc, đọc còn ngọng, chưa biết đọc đúng lời nhân vật, ngắt nghỉ sau các dấu câu, tốc độ đọc còn chậm - Trước thực trạng đó đã cho thấy kết quả học tập của học sinh rất thấp. Khi học môn Tiếng việt học sinh không tập trung, còn nhút nhát, thiếu tự tin, rụt rè trong giao tiếp. Đây là kết quả khảo sát đầu năm học vừa qua. Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % 2A 31 12 38,7 15 48,4 4 12,9 3. Nội dung của biện pháp Việc rèn kĩ năng đọc trong giảng dạy môn Tiếng Việt sẽ làm cho học sinh có ý thức đọc đúng; nghe, phát hiện những bạn đọc chưa đúng để sửa lỗi cho bạn. Ngoài ra, học sinh có hứng thú đọc, tích cực đọc. Các biện pháp cụ thể tôi đã áp dụng: Biện pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh trong lớp Biện pháp 2: Lập kế hoạch bài học Tập đọc cho phù hợp các đối tượng học sinh Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng dạy tập đọc thông qua đọc mẫu của giáo viên Biện pháp 4: Rèn kĩ năng đọc thầm cho học sinh Biện pháp 5: Có hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh ở phần luyện đọc, phần tìm hiểu bài. Biện pháp 6: Sử dụng nhiều hình thức giải nghĩa từ Biện pháp 7: Coi trọng việc rèn đọc cho học sinh Biện pháp 8: Thường xuyên tổ chức các trò chơi Biện pháp 9: Thường xuyên nhận xét, đánh giá thực chất hiệu quả đọc đúng, đọc hay của học sinh. 4. Cách thức thực hiện biện pháp Biện pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh trong lớp - Ngay từ đầu năm học, GV phải nắm được thực trạng chất lượng HS trong 4
  5. lớp căn cứ vào: + Lực học của học sinh năm học trước. + Thông qua thực tế giảng dạy những tuần đầu năm học, trong giờ tập đọc, hoạt động học tập của học sinh. + Thông qua bài khảo sát chất lượng HS cuối HKII năm học trước. + Giáo viên phân loại các đối tượng HS trong lớp về: Số lượng HS có trình độ đọc hay, đọc tốt, đọc trôi chảy ? số lượng học sinh đọc đúng? số lượng HS đọc chậm, vừa đọc vừa đánh vần ? HS khuyết tật ? khả năng học tập của từng HS trong lớp ? Biện pháp 2: Lập kế hoạch bài học cho phù hợp các đối tượng học sinh. - GV dựa trên kế hoạch dạy học hàng tuần của khối được thống nhất trong tổ và kí duyệt với BGH nhà trường. GV lập kế hoạch giảng dạy của lớp mình có sự điều chỉnh về nội dung học tập môn Tiếng Việt trong tuần cho phù hợp đối tượng HS trong lớp, kế hoạch dạy học không mang tính hình thức, dập khuôn máy móc. Tăng cường rèn đọc cho HS trong các buổi học bổ trợ ( buổi 2). - Giáo viên có sự điều chỉnh, bổ sung, giảm tải hợp lí với HS có trình độ đọc còn chậm, mở rộng nâng cao với HS có trình độ đọc tốt, điều chỉnh thời gian cho từng hoạt động trong bài học; GV lập kế hoạch kèm cặp giúp đỡ HS cá biệt, giúp đỡ HS năng khiếu theo dõi trong sổ chủ nhiệm thường xuyên, liên tục, sau mỗi đợt kiểm tra chất lượng HS nâng lên rõ rệt. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng dạy tập đọc thông qua đọc mẫu của giáo viên. - Giọng đọc mẫu của giáo viên cũng rất quan trọng. Nó đòi hỏi người giáo viên phải đọc chuẩn mực, chính xác làm cơ sở định hướng cho học sinh. - Giáo viên đọc mẫu phải thật tốt, thật diễn cảm để học sinh cảm nhận được cái hay của bài tập đọc. Biện pháp 4: Rèn kĩ năng đọc thầm cho học sinh - Đây là việc làm quan trọng để hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Đọc thầm giúp các em chuẩn bị cho khâu đọc thành tiếng, tìm hiểu bài và nắm bắt nội dung của bài vì vậy giáo viên không được bỏ qua bước này. 5
  6. - Với học sinh lớp 2 đọc thầm khó hơn đọc thành tiếng do các em chưa có ý thức tập trung cao để đọc, thường các em sẽ bỏ sót dòng, bỏ sót đoạn trong bài tập đọc. Để rèn thói quen đọc thầm cho học sinh phải gắn liền với việc kết hợp tham gia đặt câu hỏi nhận biết nhiệm vụ học tập( Ví dụ: Em đã đọc thầm đến đâu? Nội dung đoạn em đọc nói về điều gì?...). - Có nhiều hình thức cho học sinh đọc thầm như đọc cá nhân, đọc theo nhóm, Đọc thầm trong nhóm giúp các em có thời gian lắng nghe bạn đọc đồng thời phát hiện, sửa lỗi cho bạn cũng như tự sửa lỗi cho mình. Biện pháp 5: Có hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh ở phần luyện đọc, phần tìm hiểu bài. - Những câu hỏi vận dụng ngôn ngữ thường được sử dụng vào phần luyện đọc như các câu hỏi về giải nghĩa từ. - Đặt thêm các câu hỏi như: Hãy phát hiện cách đọc sau khi nghe cô đọc mẫu? cách đọc câu dài, câu khó? Phát hiện giọng đọc của đoạn, của bài Ví dụ: Dạy bài Cầu thủ dự bị giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi khi học sinh đọc thầm: + Nhìn các bạn đá bóng, gấu con mong muốn điều gì?? + Vì sao lúc đầu chưa đội nào muốn nhận gấu con + Các bạn trong đội bóng rủ cậu vào đội làm gì? + Là cầu thủ dự bị, gấu con đã làm gì? + Vì sao cuối cùng cả hai đội đều muốn gấu con về đội của mình? + Gấu con có những đức tính gì đáng học tập? Biện pháp 6: Sử dụng nhiều hình thức giải nghĩa từ - Đối với các từ ngữ khó cần giải thích giáo viên không áp đặt, không đưa ra kết luận sẵn có mà các em tìm tòi, khám phá, có thể đọc thầm lại bài, trao đổi với bạn để tìm ra nghĩa của từ. Ngoài ra, giáo viên có thể giải nghĩa từ kết hợp với tranh ảnh, video hoặc gắn từ cần giải nghĩa với 1 văn cảnh, ngữ cảnh phù hợp. 6
  7. Ví dụ: Trong bài “Chuyện bốn mùa” giải nghĩa từ đâm chồi, giáo viên vừa giải nghĩa từ kết hợp cho học sinh xem video cây mọc ra những mầm non để từ đó học sinh hiểu và khắc sâu được kiến thức. Biện pháp 7: Coi trọng việc rèn đọc cho học sinh - Đọc có nhiều hình thức: Đọc trơn, đọc diễn cảm, đọc to, đọc thầm, đọc cá nhân, đọc theo nhóm Kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 chưa hoàn thiện nên trong yêu cầu đọc chủ yếu học sinh mới từ đọc đúng, khuyến khích học sinh đọc hay. - Muốn học sinh đọc tốt trước hết cần rèn cho các em phát âm đúng. Do ảnh hưởng của phương ngữ nên học sinh chủ yếu ngọng 2 phụ âm l/n. Vì vậy trong tất cả các bài tập đọc giáo viên cần đặc biệt chú ý và sửa ngọng triệt để cho học sinh ( Ví dụ: Hướng dẫn lại cách phát âm của l/n). Thống kê lỗi phát âm ở lớp học sinh hay mắc, rèn sửa cho học sinh một cách kiên trì, bền bỉ ở tất cả các tiết học, các bộ môn bằng cách cho học sinh đọc lại nhiều lần tiếng có âm l/n, dấu thanh, ch/tr; s/x.... - Kết hợp giữa việc rèn phát âm đúng là việc rèn cho học sinh đọc trôi chảy, đọc lưu loát, đọc rõ từng tiếng, không được kéo dài liền tiếng này sang tiếng khác, đọc ngắt nghỉ đúng dấu câu, đọc phân biệt câu thơ với câu văn Tốc độ đọc cần đạt 60-70 tiếng/phút, khuyến khích học sinh hay rụt rè vào hoạt động học bằng cách động viên khuyến khích các em. - Hướng dẫn học sinh yếu cách đọc tăng dần yêu cầu từ đọc đúng tiếng, đúng câu, đúng đoạn tiến tới đọc đúng cả bài. - Hướng dẫn học sinh đọc phân vai: Yêu cầu này được thực hiện sau khi học sinh đã nắm được nội dung bài Tập đọc. Yêu cầu chính của khâu này là học sinh thể hiện được giọng đọc của từng nhân vật, thể hiện tình cảm của các nhân vật. - Cùng với việc rèn đọc từng cá nhân, tôi đã thành lập phong trào “đôi bạn cùng tiến” để các em cùng giúp nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống. Biện pháp 8: Thường xuyên tổ chức các trò chơi trong các tiết học. - Có thể tổ chức trò chơi vào cuối tiết học nhằm rèn kĩ năng đọc, phản xạ nhanh nhẹn cho học sinh như: 7
  8. + Thi đọc tiếp sức + Trò chơi tự giới thiệu + Đọc truyền điện + Đóng kịch + Đọc phân vai + Hái hoa dân chủ( Bắt thăm đoạn đọc) + Đi tìm lời thơ. * Một số ví dụ minh họa: Ví dụ 1: Sử dụng trò chơi: “Đi tìm lời thơ” trong tiết dạy bổ trợ ( buổi 2) như sau: Mục đích: Để luyện cách chọn từ, chọn tiếng có nghĩa phù hợp với ý thơ, ca dao, tục ngữ điền vào chỗ trống giữa các chỗ chấm(có thể áp dụng cho các khối lớp) sau đó rèn cho HS đọc đúng, đọc hay các dòng thơ đã được hoàn thiện, có thêm vốn từ về ca dao, tục ngữ. Cách chơi: Cho học sinh điền từ còn thiếu vào các câu thơ sau: 1. Ăn quả nhớ kẻ.... 2. Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn .... 3. Đói cho sạch, rách cho..... 4. Gần mực thì , gần đèn thì.... 5. Có công mài sắt, có ngày ( Đáp án : 1.trồng cây; 2.núi cao; 3.thơm; 4.đen/rạng; 5.nên kim). Ví dụ 2: Sử dụng trò chơi “Tự giới thiệu” trong dạy học trong tiết luyện viết đoạn: Viết đoạn văn giới thiệu bản thân(lớp 2) - Luật chơi: Mỗi em phải giới thiệu được ít nhất 4 ý: Họ và tên, ngày – tháng – năm sinh, chỗ ở hiện nay, học sinh lớp, trường? - Cách chơi: Chơi theo hình thức nhóm 4 GV nêu cách chơi: Mỗi em sẽ giới thiệu trước nhóm mình ít nhất 4 nội dung sau: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, chỗ ở hiện nay, học sinh lớp, trường. 8
  9. Nhóm nhận xét về cách giới thiệu của bạn. Sau đó GV mời 2, 3 em của các nhóm khác nhau lên tự giới thiệu trước lớp. ( Lưu ý: GV có thể vận dụng cách đánh giá linh hoạt của TT27 trong khi HS chơi trò chơi: như để HS tự đánh giá về phần giới thiệu của bản thân mình trước lớp, tham gia đánh giá các bạn trong lớp ) Biện pháp 9: Thường xuyên nhận xét, đánh giá thực chất hiệu quả đọc đúng, đọc hay của học sinh - Giáo viên kiểm tra, đánh giá thường xuyên kĩ năng của học sinh qua kiểm tra bài cũ, luyện đọc đúng, thi đọc (cá nhân, nhóm, đọc phân vai...), qua đánh giá kết quả làm việc trên lớp (phát biểu ý kiến, báo cáo kết quả thảo luận nhóm, tổ...). Trong quá trình kiểm tra đánh giá thường xuyên, nếu học sinh đọc chưa đúng, chưa hay, giáo viên tổ chức cho các em luyện đọc nhiều lần để học sinh có thể đọc tốt hơn. - Giáo viên thường xuyên cho học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá học sinh, phụ huynh học sinh đánh giá học sinh. - Giáo viên thực hiện đánh giá, quy định đánh giá, thời điểm, nội dung đánh giá (kĩ năng đọc) đúng thông tư 27/2020 đảm bảo thực chất, công bằng. III. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm - Đối tượng: Học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Chiến Thắng - Nội dung: Dạy học rèn kĩ năng đọc cho HS lớp 2 ở môn Tiếng Việt theo CT GDPT 2018. - Phương pháp thực hiện: Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. 2. Tiến trình thực nghiệm Bước 1: Giúp học sinh nắm được những năng lực mình cần hình thành và phát triển. Ngay từ những tiết học đầu tiên tôi đã giúp các em xác định được những mục tiêu về năng lực mình cần đạt: + Năng lực ngôn ngữ: Đọc đúng tốc độ, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung đơn giản của văn bản; biết phản hồi về các văn bản đã học 9
  10. + Năng lực giao tiếp: Khả năng sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp và thể hiện ở các kĩ năng nghe , nói, đọc, viết. + Năng lực văn học: Nhận biết văn học nói về ai, về cái gì; nhận biết được các nhân vật trong các câu chuyện, vần trong thơ; nhận biết được truyện và thơ. + Tự học và giải quyết vấn đề: Có khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; biết chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; biết tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên,biết tìm kiếm sự trợ giúp từ thầy cô hoặc người khác; biết vận dụng những điều đã học để giải quyết các nhiệm vụ học tập, trong cuộc sống, phát hiện những tình huống mới có liên quan tới bài học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết Bước 2: Thực hành Từ yêu cầu cần đạt về năng lực nói trên, tôi chủ động cho các em rèn luyện trong mỗi tiết học ở trên lớp, khi các em ở nhà và khi các em tham gia hoạt động ngoại khóa. Bước 3: Đánh giá sự phát triển năng lực của học sinh Trong mỗi tiết học, sau mỗi phần học sinh trình bày hay chia sẻ, tôi luôn đưa ra những nhận xét, đánh giá, những lời tư vấn kịp thời. Đặc biệt trong tiết giáo dục tập thể cuối tuần, tôi cho các em tự nhận xét, đánh giá bản thân, đánh giá lẫn nhau sau một tuần học để các em thấy được các ưu điểm cần phát huy và yếu điểm cần hạn chế của mình. Tôi có những phần quà cổ vũ, động viên sự tiến bộ của các em cho dù sự tiến bộ đó là rất nhỏ. 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm Qua thời gian áp dụng các biện pháp mà tôi đưa ra, tôi nhận thấy học sinh đã có những thay đổi mang tính tích cực như: + Học sinh có thể luyện đọc ở nhiều nơi, nhiều bài Tập đọc trong suốt quá trình học tập. + Học sinh được thường xuyên chia sẻ những trải nghiệm, được tranh luận và đánh giá lẫn nhau. + Các em mạnh dạn tự tin khi đọc trong các giờ học trên lớp cũng như giao tiếp hàng ngày. + Giúp cho HS lớp 2 nói riêng, HS tiểu học nói chung bồi dưỡng phát triển ngôn ngữ, tăng hứng thú học tập, mạnh dạn tự tin thể hiện cách đọc trước bạn bè, thầy cô; mở rộng tâm hồn và phát triển nhân cách cho các em. + Việc áp dụng nhiều hình thức dạy học, tạo ra bầu không khí dễ chịu, thoải mái trong giờ học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. 10
  11. + Xây dựng khối đoàn kết cho học sinh. + Chất lượng giảng dạy được nâng lên. Đây là kết quả khảo sát lớp 2A giữa học kì I Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % 2A 31 14 45,2 17 54,8 0 0 IV. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 1. Kết luận Việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh là một hình thức dạy học tiến bộ, nó giúp ích cho học sinh rất nhiều, cần được tổ chức rộng rãi trong các trường học, nhưng nó đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp và cách thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng nội dung, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Để rèn kĩ năng đọc cho học sinh đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp từng bài dạy và thiết kế được các hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, bản thân người giáo viên cần tự học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong đó có phương pháp, kĩ năng rèn đọc cho học sinh. Người giáo viên cần yêu nghề, sáng tạo, khắc phục khó khăn, kiên trì trong công việc. Các biện pháp không chỉ áp dụng với môn Tiếng Việt mà có thể áp dụng ở tất cả các môn này áp dụng được cho tất cả các môn học ở bậc tiểu học, trong các bài cung cấp kiến thức mới, luyện tập thực hành, ôn tập rèn kỹ năng. Như vậy, việc rèn kĩ năng đọc trong dạy học môn Tiếng Việt rất phù hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh, tạo được sự hứng khởi của người học, sự tự tin trong giao tiếp của người học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường. 2. Đề xuất - Nhà trường tổ chức các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy để thông qua đó giáo viên có thể lồng ghép các kĩ năng dạy học vào giảng dạy. - Các đồng chí giáo viên cần xem xét kĩ nội dung bài học trước khi tổ chức hoạt động. 11
  12. - Ban giám hiệu cần có sự chỉ đạo trong việc thực hiện triển khai kĩ năng tổ chức hoạt động dạy học. Nhà trường xem xét kĩ nội dung các biện pháp, triển khai thực hiện để nâng cao chất lượng dạy và học. - Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng để dạy ở lớp 2A do tôi chủ nhiệm. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu và trình độ, kinh nghiệm còn hạn chế nên những vấn đề nêu trên không khỏi có sai sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành của Ban giám hiệu nhà trường, Hội đồng thẩm định, các bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học ngày càng tốt hơn. Chiến Thắng, tháng 12 năm 2021 HIỆU TRƯỞNG TÁC GIẢ Nguyễn Thị Lê Hà Đặng Thị Thủy 12
  13. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tiếng Việt 2 tập 1 - Bùi Mạnh Hùng - NXBGD 2. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 - Tập 1 - Bùi Mạnh Hùng - NXBGD 3. Hướng dẫn dạy học Tiếng Việt 4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 5. Công văn 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07 tháng 6 năm 2021 “V/v Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 6. Thông tư 32/2018TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Ban hành chương trình GDPT”. 7. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, ngày 4 tháng 5 năm 2020 về việc “Ban hành quy định đánh giá nhận xét học sinh Tiểu học”. 13
  14. MỤC LỤC STT Nội dung Trang Ghi chú 1 I.Mở đầu 1 2 1.Lí do lựa chọn biện pháp 1-2 3 2. Đối tượng áp dụng 2 4 II. Nội dung biện pháp 2-9 5 1.Mục tiêu của biện pháp 2 6 2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiến 2-4 7 2.1 Cơ sở lí luận 2-3 8 2.2. Cơ sở thực tiễn 3-4 9 3. Nội dung biện pháp 4 10 4. Quy trình thực hiện biện pháp 4-9 11 III.Thực nghiệm biện pháp tại đơn vị 9-11 12 1.Đối tượng, nội dung phương pháp thực nghiệm 9 13 2.Tiến trình thực nghiệm 9-10 14 3.Đánh giá kết quả thực nghiệm 10-11 15 IV. Kết luận, đề xuất. 11-12 14