Bài giảng Ngữ Văn Lớp 9 (Kết nối tri thức) - Bài: Chuyện người con gái Nam Xương
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ Văn Lớp 9 (Kết nối tri thức) - Bài: Chuyện người con gái Nam Xương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_9_ket_noi_tri_thuc_bai_chuyen_nguoi_co.pptx
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ Văn Lớp 9 (Kết nối tri thức) - Bài: Chuyện người con gái Nam Xương
- I Tìm hiểu chung
- 1. Tác giả : Quê: Tỉnh Bình Dương Sống ở thế kỉ XVI, triều đình nhà Lê khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh dành quyền binh, gây ra nội chiến kéo dài Ông học rộng, tài cao nhưng làm quan có một năm rồi lui về ở ẩn Nguyễn Dữ “Truyền kỳ mạn lục” gồm 20 chuyện
- 2. Tác phẩm : Xuất xứ : Trích “Truyền kì mạn lục” Là truyện thứ 16/20, bắt Vị trí : nguồn từ câu chuyện cổ tích có tên: “Vợ chàng Trương”
- Thể loại văn tự sự, xuất xứ Thường mô phỏng những từ Trung Quốc, thịnh hành cốt truyện dân gian, truyền từ thời Đường Nguồn thuyết, lịch sử gốc Yếu tố kì ảo Nghệ Đặc + Tình huống Truyền kì truyện thuật điểm mạn lục Phụ nữ đức hạnh nhưng bất hạnh Kết Nhân Giới thiệu nhân vật - cấu vật Có trí thức, sống ẩn dật kể chuyện kì lạ - lời để giữ cốt cách thanh cao bình, thông điệp
- Nhan đề: “ Truyền kì mạn lục” : - “truyền” : lưu truyền - “kì” : kì lạ, kì ảo - “mạn” : tản mạn - “lục” : ghi chép “Truyền kì mạn lục” là ghi chép một cách tản mạn những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian.
- Đền Vũ Điện (Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương) thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
- Dòng Hoàng Giang
- II Tìm hiểu chi tiết
- 1. Nhân vật Vũ Nương :
- Nhân vật Vũ Nương : Hoàn cảnh Chi tiết miêu tả Nhận xét Khi mới về nhà chồng Khi tiễn chồng Khi Trương Sinh đi lính Lúc chồng trở về Sau khi gieo mình
- Tiểu sử: Tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương Đức hạnh: Thùy mị, nết na Nhan sắc: Tư dung tốt đẹp Xuất thân: “Con kẻ khó” Lẽ sống: “Thú vui nghi gia nghi thất” Người phụ nữ của gia đình, vì gia đình
- Chẳng mong đeo được ấn phong hầu chỉ xin mang theo được hai chữ bình yên. Chỉ e khiến cho tiện thiếp băn khoăn thổn thức tâm tình, thương người đất thú!
- Khi tiễn chồng ra trận Không ham danh lợi Người Mong bình yên vợ tình Lo sợ sự hiểm nguy, lo cho mẹ già nghĩa, thủy Bày tỏ kín đáo tình yêu, sự thủy chung chung, son sắt Nỗi nhớ nhung trông trờ, khắc khoải
- Khi Trương Sinh đi lính: “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.” Thủy chung, nhớ chồng da diết
- Hết sức thuốc Mẹ chồng ốm thang Dùng lời ngọt Lễ bái thần ngào phật Lo ma chay Thương xót như cha mẹ ruột
- “Chồng con xa xôi, mẹ chết lúc nào, không thể kịp về đền báo được. Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc lớn, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.” Lời trăn trối của mẹ chồng đã đề cao công lao của Vũ Nương đối với nhà chồng
- Vũ Nương là người vợ thuỷ chung, người con dâu hiếu thảo
- Lúc Trương Sinh trở về : •Bị nghi ngờ •Bị nhiếc mắng •Bị kết tội •Bị đánh đuổi •Bị đẩy đến cái chết

